Công nghệ sau thu hoạch - chìa khóa nâng tầm nông sản Cao Bằng

Cao Bằng có nhiều nông sản mang đậm dấu ấn vùng miền, như hạt dẻ Trùng Khánh, miến dong, chè, thạch đen đến các loại rau, quả đặc sản. Thế nhưng, từ một sản phẩm được tạo ra trên nương, ruộng đến một sản phẩm có giá trị trên thị trường là cả một hành trình, trong đó, khâu sau thu hoạch giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nếu sản xuất tạo nên chất lượng ban đầu thì công nghệ sau thu hoạch quyết định khả năng bảo quản, chế biến, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường cho nông sản. Trong bối cảnh nông nghiệp đang chuyển mạnh từ tư duy làm ra sản phẩm sang tạo ra giá trị, đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch không chỉ giúp giảm tổn thất, nâng cao chất lượng mà còn mở thêm cánh cửa để nông sản Cao Bằng đi xa, đi bền vững trên thị trường.

Nỗ lực nghiên cứu và triển khai hiệu quả công nghệ sau thu hoạch

Nông sản của tỉnh tập trung vào sản phẩm đặc hữu có mùa vụ ngắn và dễ hỏng. Hạt dẻ Trùng Khánh có gần 700 ha, sản lượng 130 - 160 tấn mỗi năm, thu hoạch trong khoảng hai tháng trong năm, hạt tươi nếu để vài tuần là mốc hoặc mất nước. Dong riềng năm 2025 đạt 1.582,31 ha, sản lượng 87.660 tấn, gấp gần 1,9 lần năm trước. Sản lượng tăng mạnh nhưng năng lực sơ chế, bảo quản không theo kịp, giá củ tươi rơi xuống 1.200 - 1.400 đồng/kg so với khoảng 3.000 đồng/kg năm 2024... 

Sản phẩm hạt dẻ dẻo Trùng Khánh ăn liền có thể bảo quản trong thời gian dài, không sử dụng chất bảo quản, giữ nguyên hương vị, màu sắc và giá trị dinh dưỡng.

Sản phẩm hạt dẻ dẻo Trùng Khánh ăn liền có thể bảo quản trong thời gian dài, không sử dụng chất bảo quản, giữ nguyên hương vị, màu sắc và giá trị dinh dưỡng.

Ở khâu nghiên cứu, tỉnh chọn cách đi từ chính những nông sản đang khó nhất về bảo quản, như Đề tài “Nghiên cứu công nghệ sơ chế và bảo quản hạt dẻ Trùng Khánh” do Trung tâm Ươm tạo Công nghệ và Doanh nghiệp khoa học công nghệ chủ trì, thực hiện từ tháng 10/2023 đến tháng 9/2025, trong đó, hoàn thành quy trình công nghệ bảo quản hạt dẻ tươi: Xác định phương pháp thu hoạch, vận chuyển, phân loại nguyên liệu hạt dẻ tươi; kỹ thuật xử lý nguyên hạt dẻ trước bảo quản; nghiên cứu bảo quản nguyên liệu hạt dẻ; xây dựng quy trình công nghệ bảo quản hạt dẻ nguyên liệu... Kết quả, quy trình công nghệ bảo quản dẻ nguyên liệu cho cả hai loại vỏ và tách vỏ của đề tài hoàn toàn có thể áp dụng vào sản xuất bảo quản hạt dẻ được 12 tháng, đảm bảo chất lượng đạt theo quy chuẩn Việt Nam: QCVN 20-1:2024/BYT và QCVN 8-2-2011-BYT.

Trước đó, dự án gạo nếp Hương Bảo Lạc (2018 - 2022) do Doanh nghiệp tư nhân 668 Bảo Lâm chủ trì đã xây dựng một cơ sở chế biến có thiết bị bảo quản và chế biến gạo đặc sản, chế biến hơn 64 tấn thóc, mở rộng vùng trồng hơn 100 ha với 25 ha đạt VietGAP. Dự án dược liệu hà thủ ô đỏ (12/2018 - 6/2022) của Công ty TNHH Quan Đạo làm chủ 5 quy trình công nghệ, trong đó, có quy trình thu hoạch và bảo quản, đồng thời lắp đặt hệ thống chiết xuất công suất 100 kg mỗi lô, tạo ra 1.200 kg nguyên liệu khô và 405 kg cao chiết. 

Đề tài xây dựng nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm từ cây thạch đen đã chuẩn hóa tiêu chuẩn chất lượng, quy trình sản xuất và quy trình chế biến, được cấp bảo hộ theo Quyết định số 105683/QĐ-SHTT ngày 16/12/2020. Gần đây nhất, ngày 7/8/2026, Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Ban Quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản, trong đó có chuyên đề riêng về bảo quản và chế biến sau thu hoạch cho cây gừng đen.

Nhà máy chế biến, bảo quản gia vị hữu cơ xuất khẩu đầu tiên của tỉnh đã khởi công ngày 24/8/2026 tại xóm Na Pá, xã Đông Khê. Dự án của Công ty TNHH Phát triển nông nghiệp và Tư vấn môi trường (DACE) có tổng vốn 126 tỷ đồng, công suất trên 50.000 tấn nguyên liệu mỗi năm gồm ớt, gừng, nghệ, sả, quế, hồi, gắn với 2.300 ha vùng nguyên liệu hữu cơ liên kết, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2027.

Có thể nói, để những lợi thế về đất đai, khí hậu và sản vật đặc trưng thực sự trở thành giá trị kinh tế, tỉnh đang từng bước quan tâm khâu sau thu hoạch, từ nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến hỗ trợ cơ sở sản xuất, hợp tác xã ứng dụng vào thực tiễn. Đây không chỉ là giải pháp hạn chế tổn thất nông sản mà còn là hướng đi quan trọng để nâng cao chất lượng, kéo dài thời gian bảo quản, đa dạng hóa sản phẩm và đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Đầu tư công nghệ, nâng tầm giá trị nông sản

Hiệu quả của công nghệ sau thu hoạch dễ thấy nhất khi nhìn vào Hợp tác xã Nông sản Tân Việt Á (xóm Lang Môn, xã Minh Tâm) chuyên sản xuất miến dong. Trước khi đầu tư, cơ sở sản xuất hơn 20 tấn/năm, công suất khoảng 3 tạ/ngày, doanh thu khoảng 500 triệu đồng và chỉ bán trong nước; sản phẩm đạt OCOP 3 sao năm 2020. Sau khi đầu tư hơn 2 tỷ đồng hệ thống lọc bột tự động, máy ép miến, giàn phơi sấy tự động và băng tải, áp dụng ISO 22000:2018 cùng tem truy xuất nguồn gốc, sản lượng lên hơn 50 tấn/năm, doanh thu hơn 4 tỷ đồng, giá bán 80.000 đồng/kg, sản phẩm được nâng lên OCOP 4 sao năm 2023, có mặt tại hơn 10 tỉnh, thành và xuất khẩu 6 tấn sang Mỹ năm 2024, 4 tấn năm 2025. Hợp tác xã liên kết với 65 hộ với trên 25 ha nguyên liệu.

Theo ông Trần Đức Hiếu, Giám đốc HTX Nông sản Tân Việt Á, trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, làm ra sản phẩm tốt mới chỉ là bước đầu, vấn đề quan trọng là phải giữ được chất lượng và nâng cao giá trị sản phẩm sau khi thu hoạch. Nông sản nếu chỉ dừng ở khâu thu hái, sơ chế thủ công thì rất khó bảo quản lâu, dễ phát sinh hao hụt và giá trị gia tăng không cao. Khi ứng dụng công nghệ vào các khâu phân loại, sơ chế, sấy, bảo quản, đóng gói..., sản phẩm được kiểm soát tốt hơn về chất lượng, thời gian bảo quản được kéo dài, từ đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường.

Nhưng đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch không chỉ là câu chuyện của máy móc mà còn là sự thay đổi tư duy sản xuất. Mỗi công đoạn từ thu hái, sơ chế đến chế biến, bảo quản đều cần được chuẩn hóa để tạo ra sản phẩm đồng đều, an toàn và có khả năng truy xuất nguồn gốc. 

Người tiêu dùng mua thạch đen Cao Bằng tại AEON Mall Long Biên (Hà Nội) cho thấy tiềm năng mở rộng thị trường của nông sản địa phương khi được đầu tư công nghệ chế biến, bảo quản và đóng gói.

Người tiêu dùng mua thạch đen Cao Bằng tại AEON Mall Long Biên (Hà Nội) cho thấy tiềm năng mở rộng thị trường của nông sản địa phương khi được đầu tư công nghệ chế biến, bảo quản và đóng gói.

Đối với chuỗi thạch đen Thạch An, khi các cơ sở chế biến đi vào hoạt động cùng với nhãn hiệu chứng nhận, diện tích tăng từ 428 ha năm 2021 lên 509 ha năm 2024, sản lượng từ 2.000 tấn lên 2.955 tấn, giá thu mua thạch khô từ 20.000 - 30.000 đồng/kg lên 42.000 - 45.000 đồng/kg, giá trị thu về từ 60 - 70 tỷ đồng lên 80 - 100 tỷ đồng mỗi năm. Trong chuỗi này có các chủ thể OCOP 3 sao tiêu biểu, như: Công ty TNHH Đầu tư sản xuất và Thương mại Bảo Châu ở Tà Lùng, xã Phục Hòa với dây chuyền xử lý 12 tấn cây thạch khô mỗi ngày; cơ sở Hằng Hoàng, xã Thạch An chế biến 18 tấn/năm, tạo việc làm cho 7 lao động với thu nhập 7 - 8 triệu đồng/tháng; cơ sở Đinh Tuyên đóng hộp 800 - 1.200 hộp mỗi ngày vào chính vụ, khoảng 100.000 hộp/năm. Khi thực hiện các bước chuẩn bị, bảo quản một cách khoa học, thạch không chỉ giữ được độ tươi mà còn giảm thiểu lãng phí, đồng thời, mang lại trải nghiệm thưởng thức ngon miệng mỗi lần dùng.

Chị Nguyễn Khánh Hà, khách hàng tại Aeon Mall Long Biên, Hà Nội chia sẻ: Mình thường mua thạch đen Cao Bằng ở siêu thị vì hương vị đặc trưng, thanh mát và phù hợp để sử dụng trong gia đình. Trước đây, điều khiến mình quan tâm nhất là sản phẩm có bảo quản được lâu hay không và chất lượng có ổn định không. Nay các cơ sở sản xuất ứng dụng công nghệ vào sơ chế, chế biến, bảo quản và đóng gói, sản phẩm có thời gian sử dụng dài hơn nhưng vẫn giữ được chất lượng, bao bì cũng sạch đẹp, thông tin rõ ràng. Là người tiêu dùng, khi sản phẩm được kiểm soát tốt từ khâu sau thu hoạch đến khi lên kệ siêu thị, chúng tôi cảm thấy yên tâm hơn khi lựa chọn và sẵn sàng mua lại.

Có thể nói, với sự đồng hành của cơ quan quản lý, các nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất, công nghệ sau thu hoạch trở thành mắt xích quan trọng kết nối vùng nguyên liệu với thị trường, kết nối sản vật địa phương với chuỗi giá trị hiện đại. Qua đó, công nghệ sau thu hoạch giúp giữ lại trọn vẹn chất lượng của nông sản và tạo thêm giá trị cho từng sản phẩm, những sản vật từ miền non nước không chỉ được bán đi mà còn được nâng niu, định danh và khẳng định vị thế trên thị trường. Đó chính là chìa khóa để Cao Bằng biến tiềm năng nông nghiệp thành giá trị bền vững, để mỗi nông sản quê hương ngày càng đi xa hơn và mang theo niềm tự hào về một vùng đất giàu sản vật, giàu bản sắc.

Xuân Lam

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/cong-nghe-sau-thu-hoach-chia-khoa-nang-tam-nong-san-cao-bang-3192343.html