Công nghiệp văn hóa đưa nguồn lực thành sức mạnh mềm quốc gia

Việt Nam sẽ có cơ sở đưa công nghiệp văn hóa từ một lĩnh vực giàu tiềm năng trở thành một động lực phát triển thực sự. Đích đến không chỉ nằm ở câu hỏi công nghiệp văn hóa đóng góp vào GDP, mà cao hơn là biến tài nguyên văn hóa thành nguồn lực phát triển, tạo sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Chất lượng sản phẩm văn hóa trong nước đã và đang đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài tương tự (Ảnh: Ban tổ chức Tổ quốc trong tim)

Chất lượng sản phẩm văn hóa trong nước đã và đang đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài tương tự (Ảnh: Ban tổ chức Tổ quốc trong tim)

Văn hóa không đứng ngoài nền kinh tế

Việt Nam có một lợi thế đặc biệt với hàng nghìn năm lịch sử và một kho tàng di sản vật thể và phi vật thể phong phú từ kiến trúc, nghệ thuật truyền thống, lễ hội, văn học, âm nhạc đến ẩm thực, nghề thủ công và những câu chuyện lịch sử, văn hóa gắn với từng vùng đất...

Tính trong hai năm trở lại đây, riêng ở lĩnh vực điện ảnh và âm nhạc, có không ít bộ phim và chương trình biểu diễn đạt doanh thu lớn trong nước. Năm 2024, phim "Mai" đạt khoảng 520 tỷ đồng với lượng vé bán đạt con số 6,5 triệu. Chỉ một năm sau, phim "Mưa đỏ" đạt khoảng 710 tỷ đồng và thu hút hơn 8 triệu lượt khán giả. Trên sân khấu, những concert thuộc các thương hiệu như Anh trai say hi, Anh trai vượt ngàn chông gai liên tục tạo ra các đêm diễn với hàng chục nghìn người tham dự. Thực tế cho thấy chất lượng sản phẩm trong nước đã và đang đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài tương tự và tự tin để có thể vượt lên chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra quốc tế.

Theo định hướng của Nhà nước, công nghiệp văn hóa được xác định gồm 10 lĩnh vực trọng tâm với quy mô khoảng 100.000 doanh nghiệp và cơ sở kinh tế hoạt động trong toàn ngành. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2030, đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng, có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp tối thiểu 7% GDP hằng năm.

Tuy nhiên, phát biểu tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ, tỉ trọng các ngành công nghiệp văn hóa hiện nay mới chỉ đạt khoảng 4% GDP trong khi mục tiêu là 7% vào năm 2030 và 9% vào năm 2045. Khoảng cách ấy cho thấy chúng ta vẫn thiếu một hệ sinh thái đồng bộ về thể chế, thị trường, dữ liệu, nhân lực và cơ chế huy động nguồn lực để chuyển hóa sức sáng tạo văn hóa thành sức sản xuất mới và động lực tăng trưởng của quốc gia. Khoảng cách này cho thấy Việt Nam còn thiếu một hệ sinh thái đồng bộ về thể chế, thị trường, dữ liệu, nhân lực và cơ chế huy động nguồn lực để chuyển hóa sức sáng tạo văn hóa thành động lực tăng trưởng.

Trong đó, thể chế vẫn là “điểm nghẽn” chính khiến công nghiệp văn hóa chưa khai thác hết tiềm năng. Hiện nhiều lĩnh vực thuộc công nghiệp văn hóa như điện ảnh, quảng cáo, xuất bản, du lịch và một số hoạt động sáng tạo đã được điều chỉnh bởi luật chuyên ngành, nhưng đến nay chưa có văn bản luật điều chỉnh công nghiệp văn hóa với tư cách là một ngành kinh tế có tính liên ngành, dựa trên hệ sinh thái sáng tạo, chuỗi giá trị và đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa đang có nhu cầu lớn về nguồn lực tài chính và đầu tư. Các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư hiện còn phân tán, chưa hình thành cơ chế đồng bộ để khuyến khích đầu tư vào hạ tầng, sản phẩm và dự án công nghiệp văn hóa có tính đặc thù, có khả năng tạo giá trị kinh tế, phát huy bản sắc văn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam… Khoảng trống này làm hạn chế khả năng khai thác giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa, báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nêu rõ.

Phấn đấu đưa công nghiệp văn hóa đóng góp tối thiểu 7% GDP hằng năm (Báo Văn hóa)

Phấn đấu đưa công nghiệp văn hóa đóng góp tối thiểu 7% GDP hằng năm (Báo Văn hóa)

Đa dạng hóa nguồn vốn hỗ trợ, ưu đãi đầu tư

Từ thực tiễn đó, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý để chuyển bản sắc văn hóa thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền; qua đó hình thành những sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam, có khả năng cạnh tranh và lan tỏa trên thị trường quốc tế.

Dự thảo luật bao gồm 09 chương và 51 điều, gồm 6 nhóm chính sách lớn là phát triển hệ sinh thái, tài sản trí tuệ, nhân lực, hạ tầng, thị trường, tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư. Trong đó cơ chế tài chính, các chính sách nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về nguồn lực tài chính, chia sẻ rủi ro đầu tư, hỗ trợ, ưu đãi đầu tư đối với hạ tầng, sản phẩm trọng điểm, cơ sở công cộng và cơ chế thu hút nhà đầu tư nước ngoài ưu tiên thu hút trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa được dư luận quan tâm.

Với chính sách này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất 11 nhóm nội dung, trong đó đa dạng hóa các nguồn ngân sách nhà nước, vốn vay, đóng góp, tài trợ và các quỹ hợp pháp…; cho phép các quỹ nhà nước hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa, thực hiện bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp có dự án, phương án sản xuất kinh doanh dựa trên tài sản trí tuệ; cho phép các quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ có vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, dự án công nghiệp văn hóa theo các nguyên tắc thị trường, chấp nhận rủi ro có kiểm soát… Cùng với đó, dự thảo quy định về việc hỗ trợ chi phí sản xuất cho các dự án có giá trị kinh tế cao, áp dụng chính sách hỗ trợ, ưu đãi và xã hội hóa cho các cơ sở hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận; cho phép trừ tối đa 150% giá trị tài trợ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản tài trợ cho cơ sở này…

Từ thực tiễn một địa phương sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa, di sản phong phú, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Sửu (TP. Huế) đánh giá dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là một bước tiến có ý nghĩa chiến lược, bởi lần đầu tiên công nghiệp văn hóa được tiếp cận như một lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội có hệ sinh thái, chuỗi giá trị, doanh nghiệp, tài sản trí tuệ, thị trường và cơ chế chính sách riêng. Dự thảo đã đặt công nghiệp văn hóa trong mối quan hệ hữu cơ giữa văn hóa, kinh tế, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời xác định mục tiêu không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn bảo tồn, phát huy bản sắc và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.

Song đại biểu Quốc hội Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) cho rằng, cạnh tranh công nghiệp văn hóa không chỉ là cạnh tranh kinh tế mà còn là “cạnh tranh về sức mạnh mềm”. Vì vậy, Việt Nam cần có chính sách hỗ trợ, ưu đãi đặc thù, vượt trội để có khả năng cạnh tranh với các quốc gia khác. Để hiện thực hóa yêu cầu đó, Luật cần tạo đột phá ở bốn điểm.

Trong đó, cần chuyển từ “cấp tiền” sang “kiến tạo và dẫn dắt nguồn lực”. Ngân sách nhà nước cần tập trung vào những việc thị trường khó tự làm như dữ liệu văn hóa, số hóa di sản, hạ tầng sáng tạo dùng chung, đào tạo nhân lực và một số sản phẩm trọng điểm; đồng thời sử dụng nguồn lực nhà nước như “vốn mồi” để thu hút đầu tư xã hội thông qua hợp tác công tư, bảo lãnh tín dụng, đồng đầu tư và các quỹ phù hợp...

Cần biến tài sản trí tuệ thành tài sản kinh tế thực sự, bởi trong công nghiệp văn hóa, tài sản lớn nhất nhiều khi không phải nhà xưởng hay đất đai mà là bản quyền, kịch bản, nhân vật, thương hiệu, thiết kế, phần mềm. Luật cần mở đường cho việc định danh, định giá, giao dịch, góp vốn và sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm để tiếp cận tín dụng.

Đại biểu Quốc hội Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa)

Cùng chung nhận định này, TS. Ngô Đắc Thuần, Chủ tịch IP Group cho biết, nhiều tổ chức, doanh nghiệp mới chú trọng đăng ký hoặc ghi nhận quyền mà chưa quan tâm đầy đủ đến việc rà soát, đóng gói, thẩm định giá và đưa tài sản trí tuệ vào hoạt động đầu tư, kinh doanh. Tài sản trí tuệ, các quyền sở hữu trí tuệ chỉ có giá trị khi được thương mại hóa, được đưa vào sổ sách kế toán, báo cáo tài chính và được nhìn nhận là một khoản đầu tư thay vì chỉ là chi phí. Do đó, dự thảo luật cần làm rõ hơn sự khác biệt và mối liên hệ giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với “tài sản hóa” trí tuệ.

Hương Giang

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/cong-nghiep-van-hoa-dua-nguon-luc-thanh-suc-manh-mem-quoc-gia-186830.html