Cú nhảy dù tình báo của ông Lê Giản và câu nói ứng nghiệm của ông Trần Quốc Hoàn

Nhìn lại chặng đường 80 năm của lực lượng An ninh nhân dân, những mẻ vó phản gián hay chuyên án quyết định vận mệnh dân tộc không tự nhiên mà có.

Lời tòa soạn:

Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân (12/7/1946 - 12/7/2026), VietNamNet trân trọng giới thiệu tuyến bài với chủ đề: "80 năm - Trận tuyến thầm lặng giữ bình yên Tổ quốc".

Suốt tám thập kỷ qua, song hành cùng những bước ngoặt lịch sử của dân tộc, có một mặt trận thầm lặng nhưng vô cùng khốc liệt. Ở đó, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân đã dấn thân, lấy vỏ bọc làm vũ khí và lấy sự hy sinh làm lẽ sống.

Từ cuộc đấu trí ngàn cân treo sợi tóc bảo vệ chính quyền non trẻ, những chiến công điệp báo chấn động giữa sào huyệt địch, cho đến những nỗ lực lặng thầm kiến tạo nền hòa bình, bảo vệ an ninh toàn diện trong kỷ nguyên số. Tuyến bài này là sự tri ân, vinh danh trang trọng gửi tới những con người đã, đang và sẽ tiếp tục cống hiến vì sự vươn mình trường tồn của đất nước.

Trong những thời khắc lịch sử khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp lựa chọn và giao phó trọng trách bảo vệ chính quyền cách mạng cho những người cộng sản kiên trung. Hai trong số những "người truyền lửa" ấy là ông Lê Giản - Giám đốc Nha Công an Trung ương và ông Trần Quốc Hoàn - người giữ cương vị Bộ trưởng Công an suốt gần 30 năm.

Từ lời dạy mộc mạc của Bác Hồ, hai ông đã đúc kết nên triết lý nghiệp vụ, dẫn dắt lực lượng bước qua những khúc cua lịch sử. Cuộc đời họ chính là những trang sử sống động, mở đầu cho trận tuyến thầm lặng.

Ngày 25/10/1944, một chiếc phi cơ của không quân Anh thả những nhân viên tình báo mang theo điện đài và vũ khí dù xuống bản Ngần (xã Vĩnh Quang, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng). Một trong số những người tiếp đất năm ấy là Lê Giản. Thực chất, nhân viên tình báo vừa được tổ chức tình báo chiến lược Anh (SOE) huấn luyện bài bản ấy là một người cộng sản Việt Nam. Bằng một thế cờ "tương kế tựu kế", ông đã tham gia đường dây của phe Đồng Minh để thoát khỏi chốn lưu đày ở châu Phi, tìm đường trở về Tổ quốc.

Người thực hiện cú nhảy dù lịch sử đó tên thật là Tô Gĩ, Giám đốc Nha Công an Trung ương - “Tư lệnh” công an đầu tiên của nước ta sau này. Nhắc đến ông, lịch sử ngành An ninh ghi dấu một loạt công lao mang tính nền móng: từ việc trực tiếp chỉ đạo khám phá vụ án phố Ôn Như Hầu, tổ chức bảo vệ an toàn khu (ATK) Định Hóa, đến vai trò Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Công an Trung ương - nơi ông đúc kết kinh nghiệm thực tiễn thành những giáo án đầu tiên đào tạo nên các thế hệ chỉ huy xuất sắc

Sự nhạy bén và bản lĩnh của ông được bồi đắp từ nền tảng gia tộc họ Tô tại làng Xuân Cầu (xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) - ngôi làng đi vào ca dao "Ai về Đồng Tỉnh, Huê Cầu”.

Sinh ngày 2/8/1913, Tô Gĩ lớn lên dưới sự rèn giũa gia đình có truyền thống hiếu học. Trong gia tộc họ Tô, những người anh em họ của ông gồm Tô Hiệu, Tô Chấn và Tô Quang Đẩu đều sớm giác ngộ và dấn thân vào con đường cách mạng khi mới 13, 14 tuổi. Năm 11 tuổi, do mẹ mất và gia cảnh khó khăn, cậu bé Tô Gĩ được cha gửi ra Hà Nội để đi học.

Tại môi trường đô thị này, qua những tài liệu bí mật của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc truyền về từ Long Châu, nhận thức chính trị của ông bắt đầu nảy nở. Tháng 12/1929, ở tuổi 16, Tô Gĩ chính thức được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng, đánh dấu bước ngoặt lớn để bước vào chặng đường hoạt động chìm nổi, trước khi trở thành người đứng đầu thiết lập nền móng cho lực lượng An ninh Việt Nam.

Tháng 6/1930, Lê Giản được người anh họ Tô Chấn bố trí vào Sài Gòn hoạt động cùng Tô Hiệu và Tô Quang Đẩu. Đến đầu năm 1940, khi phong trào cách mạng bị khủng bố dữ dội, Lê Giản sa lưới mật thám Pháp. Khoảng giữa năm 1941, chính quyền thực dân đưa ông cùng 6 đảng viên cộng sản khác (gồm Hoàng Đình Giong, Phan Bôi, Trần Hiệu, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Minh, Dương Công Hoạt) lên tàu thủy đày biệt xứ sang Karianga thuộc đảo Madagascar (châu Phi).

Tháng 11/1942, quân Anh chiếm Madagascar và trả tự do cho nhóm lưu đày. Nhận thấy cơ hội, ông Lê Giản và các đồng chí quyết định tương kế tựu kế: tình nguyện tham gia quân Đồng Minh. Sự nhạy bén này đã giúp họ được Cơ quan Tình báo chiến lược Anh tuyển mộ và đưa sang Ấn Độ huấn luyện, mở ra con đường sống sót và mang những kỹ năng tình báo phương Tây trở về phục vụ cách mạng Việt Nam.

Sau khi được tình báo Đồng Minh huấn luyện, cuối năm 1943, ông Lê Giản cùng các đồng chí nhận lệnh chuẩn bị về nước để làm hạt nhân phát triển phong trào chiến tranh du kích.

Tháng 6/1945, Bác Hồ giao cho ông cùng ông Đàm Quang Trung nhiệm vụ đặc biệt: xây dựng sân bay Lũng Cò để nhận tiếp tế vũ khí, thuốc men từ máy bay Mỹ và phục vụ di tản phi công Đồng Minh. Chỉ trong 2 tháng, đường băng dã chiến dài 400m, rộng 20m đã hoàn thành thần tốc, đón chuyến bay đầu tiên vào tháng 8/1945.

Cách mạng Tháng Tám thành công, tháng 9/1945, ông Lê Giản được Trung ương Đảng và Bác Hồ điều động về Hà Nội làm Phó Giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Bộ (Sở Công an Bắc Bộ). Khi nhận nhiệm vụ, ông báo cáo với Bác: “Thưa Bác, cháu xa đất nước lâu ngày, không hiểu gì về tình hình đất nước, vả lại nghiệp vụ không có thì làm gì được ạ”.

Bác nói: “Chú chưa biết thì tìm hiểu để biết, đã có Đảng giúp đỡ...? Công tác cách mạng cần thì phải làm, chứ cán bộ ta có ai được học hành đầy đủ cả đâu. Nếu không biết thì nhân dân sẽ bảo cho mà biết. Phải học, phải tìm hiểu, phải dựa vào nhân dân mà làm việc.

Chú đã được học phần nào về tình báo rồi, nên chú có thể dùng những thủ đoạn đó để vận dụng ngược lại, nghĩa là nó dùng thủ đoạn nghiệp vụ để đánh ta thì ta dùng thủ đoạn nghiệp vụ đó để đánh nó.

Chú có cái lợi thế đó nên Bác mới nghĩ đến việc đưa chú sang ngành Liêm phóng. Phải đoàn kết với anh em mà làm việc. Khi làm việc, chú phải "thiết diện vô tư". Chú mà không "thiết diện vô tư" thì Bác sẽ "thiết diện vô tư" với chú đấy”.

Qua khoảnh khắc đó, Bác Hồ đã khéo léo truyền dạy bài học lớn đầu tiên: làm công an phải thiết diện vô tư, phải dựa vào dân và phải đoàn kết nội bộ.

Tháng 2/1946, ông Lê Giản được giao nhiệm vụ Giám đốc Nha Công an Trung ương. Trên cương vị này, ông đã hoạt động tích cực bảo vệ chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trực tiếp chỉ đạo phá vụ án phố Ôn Như Hầu. Việc khám phá vụ án này không chỉ đập tan một cuộc đảo chính phản cách mạng mà còn phá tan hệ thống tổ chức của đảng phản động có thực lực nhất.

Trong thời kỳ vất vả từ đó đến tháng 9/1952, ông đã tổ chức tốt ATK Định Hóa, chỉ đạo lực lượng Công an toàn quốc tiễu phỉ, trừ gian, xây dựng cơ sở và nắm tình hình địch. Dưới sự chỉ đạo của ông, mạng lưới giao thông liên lạc trong căn cứ địa được xây dựng nhằm tập trung bảo vệ lãnh tụ, các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ.

Một dấu ấn lịch sử ít người biết: Từ năm 1946 đến 1952, ông cũng là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Công an Trung ương (tiền thân Học viện An ninh nhân dân sau này). Bằng kinh nghiệm của một nhà tình báo điện đài và thực tiễn chiến đấu, ông đúc kết thành giáo trình “Học kết hợp với hành”, đào tạo hàng ngàn học viên trở thành những chỉ huy an ninh xuất sắc.

Tháng 5/1958, ông Lê Giản được phân công làm Thẩm phán, rồi Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Lời căn dặn “thiết diện, vô tư” của Bác Hồ tiếp tục được ông áp dụng nghiêm cẩn cùng nguyên tắc “phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” tại Tòa án. Với hơn 21 năm cống hiến tại ngành Tòa án cùng những đóng góp to lớn mang tính nền móng cho lực lượng Công an, năm 2011, ông Lê Giản đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.

Tiếp nối nền móng vững chắc do người tiền nhiệm Lê Giản xây dựng, lịch sử ngành Công an ghi đậm dấu ấn của ông Trần Quốc Hoàn - vị Tư lệnh tại vị lâu nhất. Hành trình ba thập niên kiến tạo học thuyết an ninh và tầm nhìn vượt thời đại của vị Bộ trưởng này lại được bắt đầu từ những câu chuyện vô cùng ly kỳ chốn ngục tù thực dân.

Trong lịch sử đấu tranh chống Pháp, có lẽ chưa từng có một cuộc tháo chạy nào kỳ lạ như sự kiện tại nhà tù Sơn La thời điểm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Khi biết tin phát xít Nhật đảo chính Pháp, nhận thấy tình thế khẩn trương và thời cơ đã điểm, ông Trần Quốc Hoàn - lúc bấy giờ là Bí thư chi bộ nhà tù Sơn La, bằng nhãn quan sắc bén, ông đã giao ông Nguyễn Đức Quỳ (lúc ấy là thư ký của nhà tù) gặp chánh sứ Pháp và thương lượng:

"Chúng ta đứng trước một tình thế phải lựa chọn một trong hai con đường: Hoặc là, chúng tôi và các ông hợp tác với nhau, dựa vào lính khố xanh và trung đội quân lê dương của các ông, chúng tôi sẽ để lại một số người giúp các ông vận động người Thái. Chúng ta vào rừng kháng cự. Còn số đông những người tù chúng tôi, các ông mở cửa cho về xuôi”.

Ngày 11/3/1945, gần 200 người được rời khỏi nhà tù Sơn La theo hướng Yên Bái. Đến khu vực chia tay để các chiến sĩ cộng sản bắt liên lạc với Đảng, ông Trần Quốc Hoàn đã nói mấy lời với đám lính Pháp sau đó, họ lần đầu bắt tay nhau, nói lời từ biệt.

Người Bí thư chi bộ với bản lĩnh thu phục nhân tâm tuyệt vời ngày ấy tên thật là Nguyễn Trọng Cảnh. Ông sinh ngày 23/1/1916, trong một gia đình nghèo ở xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Thiên Nhẫn, tỉnh Nghệ An). Sớm giác ngộ cách mạng và trưởng thành trong gian khó, trước khi bị thực dân Pháp bắt giam và đày lên Sơn La, ông đã được Đảng tín nhiệm cử làm Bí thư Khu ủy Hà Nội. Chính những năm tháng rèn luyện trong ngục tù đế quốc ấy đã hun đúc nên bản lĩnh của một nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu.

Cũng tại nơi ngục tù khắc nghiệt ở Sơn La, có một câu chuyện lý thú do ông Hoàng Tùng (một cựu tù Sơn La, sau này là Bí thư Trung ương Đảng, Tổng Biên tập báo Nhân Dân) kể lại. Thời kỳ đó, mỗi lần đi đập đá khổ sai, lúc giải lao là một lần các chiến sĩ cộng sản tập hợp bàn kế vượt ngục. Trong một lần nghỉ tay đập đá vào khoảng năm 1943, ba người là Văn Tiến Dũng, Hoàng Tùng và Trần Quốc Hoàn hỏi nhau về ước mơ sau này cách mạng thành công thì chọn thích làm nghề gì?

Hoàng Tùng trả lời “thích viết báo" (sau này ông làm Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương). Ông Văn Tiến Dũng nói “thích làm lính” (sau này ông làm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng). Còn ông Trần Quốc Hoàn đáp ngay: "Mình thích làm gián điệp".

Câu trả lời năm ấy đã trở thành sự thật lịch sử, khi ông đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Công an suốt gần 30 năm (1953 - 1980). Ông trở thành một nhà lãnh đạo phản gián, trực tiếp bắt gián điệp Mỹ - ngụy, đồng thời là một nhà lý luận về Khoa học Công an với những giá trị còn nguyên vẹn đến tương lai.

Đảm nhiệm cương vị người đứng đầu ngành từ năm 1953 cho đến năm 1980, ông đã dành gần ba thập niên để thiết kế nền tảng lý luận và tổ chức lực lượng. Trong tư duy của vị Bộ trưởng này, giáo dục chính trị tư tưởng và quan điểm “lấy dân làm gốc” luôn được đặt lên hàng đầu. Chính từ triết lý đó, lời căn dặn “Thức cho dân ngủ ngon, gác cho dân vui chơi” của ông đã ra đời, trở thành lý tưởng phục vụ và lẽ sống của toàn lực lượng Công an nhân dân.

Không chỉ dừng lại ở tư tưởng, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn chính là một trong những người đầu tiên đặt bệ phóng lý luận khoa học cho ngành Công an. Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ VII do ông chủ trì, 7 kết luận cốt lõi về nghiệp vụ Công an đã được đúc rút, tạo thành bộ khung vững chắc cho học thuyết an ninh quốc gia.

Ông chỉ đạo bằng những phương châm mộc mạc: “Tích cực bảo vệ mình, chủ động tiêu diệt địch”. Dưới sự điều hành của ông, lực lượng an ninh đã liên tiếp đấu tranh thắng lợi, bẻ gãy mọi chiến dịch bạo loạn, tung gián điệp, biệt kích ra phá hoại miền Bắc của CIA và cơ quan tình báo chế độ Sài Gòn.

Đặc biệt, giống như người tiền nhiệm Lê Giản, ông Trần Quốc Hoàn dành rất nhiều tâm huyết sắm vai "Người thầy". Trong suốt những năm kháng chiến, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn kiêm luôn chức vụ Hiệu trưởng Trường Công an Trung ương.

Ông tự tay xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức tuyển sinh đại học khóa đầu tiên (khóa D1, 1969 - 1975). Ít ai ngờ, một vị Bộ trưởng với khối lượng công việc khổng lồ lại đích thân ra đề thi tốt nghiệp, trực tiếp đọc và chấm từng bài thi tỉ mỉ như một giáo viên chủ nhiệm.

Khi cả nước còn đang gồng mình kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, kinh tế - kỹ thuật còn lạc hậu, thì Bộ trưởng Trấn Quốc Hoàn đã sớm hình dung ra một “trận tuyến thầm lặng” - nơi vũ khí không chỉ là súng đạn, mà là mắt xích điện tử, tín hiệu vô tuyến, thiết bị ngụy trang, thông tin mật mã…

Ông là người đầu tiên xác lập và xây dựng lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, khởi đầu cho một giai đoạn chuyển mình chiến lược từ lấy sức người làm chính sang kết hợp con người và trí tuệ công nghệ.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông, những cán bộ kỹ thuật đầu tiên đã bắt tay vào công việc với thiết bị thô sơ: máy thu phát điện quay tay bằng xe đạp, ống nghe lắp ghép, pin tự chế,…

Nhưng từ những bản tin đầu tiên thu được qua vô tuyến điện, lực lượng non trẻ này đã cung cấp thông tin quan trọng cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước và giúp phá nhiều âm mưu gián điệp, biệt kích, thám báo do tình báo Mỹ và tay sai cài lại. Đây chính là tiền đề cho phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ trong công an nhân dân.

Cuộc đời hoạt động của ông Lê Giản và ông Trần Quốc Hoàn - hai vị Tư lệnh ngành Công an từ những buổi đầu non trẻ và gian khó đã trở thành những huyền thoại của Lực lượng An ninh Việt Nam nói riêng và ngành Công an nói chung.

Những bài học của những tiền bối để lại, đến nay vẫn nguyên giá trị để các thế hệ cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân trưởng thành toàn diện, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ An ninh Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Hồng Thái

Nguyễn Đình Đoàn Bổng

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/cu-nhay-du-tinh-bao-cua-ong-le-gian-va-cau-noi-ung-nghiem-cua-ong-tran-quoc-hoan-2535421.html