'Cú tăng tốc' ấn tượng của dòng vốn FDI và bài toán nâng cao năng lực hấp thụ

Những con số ấn tượng về dòng vốn FDI 7 tháng đầu năm 2026 đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao năng lực hấp thụ và hoàn thiện thể chế để giữ chân và lan tỏa mạnh mẽ dòng vốn chất lượng cao.

Số liệu kinh tế vĩ mô 7 tháng được công bố đầu tuần này tiếp tục khẳng định dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam là điểm sáng với mức tăng trưởng ấn tượng cả về quy mô đăng ký lẫn giá trị thực hiện.

Quy mô vốn đăng ký tăng vọt và giải ngân cao kỷ lục

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tính đến ngày 31/7 đã đạt 38,06 tỷ USD, ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ tới 58% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, cả nước có 2.429 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký mới đạt 21,05 tỷ USD - tăng 7,8% về số lượng dự án và gấp 2,1 lần về số vốn so với cùng kỳ. Điều này cho thấy quy mô trung bình của mỗi dự án mới đang lớn hơn rất nhiều.

Không những vậy, vốn FDI thực hiện ước đạt 15,20 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là mức cao nhất của 7 tháng trong vòng 5 năm qua, chứng minh dòng vốn cam kết được triển khai, đi vào nền kinh tế một cách ngày càng nhanh chóng.

Vốn FDI đăng ký vào Việt Nam 7 tháng giai đoạn 2022 - 2026.

Vốn FDI đăng ký vào Việt Nam 7 tháng giai đoạn 2022 - 2026.

Vốn FDI thực hiện bảy tháng giai đoạn 2022 - 2026.

Vốn FDI thực hiện bảy tháng giai đoạn 2022 - 2026.

FDI tăng mạnh cả về đăng ký và thực hiện.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam tiếp tục là "thỏi nam châm" khi hút 55% tổng vốn đăng ký cấp mới (11,58 tỷ USD) và 82,6% tổng vốn thực hiện (12,55 tỷ USD) trong 7 tháng qua.

Xét theo quốc gia và vùng lãnh thổ, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 7,5 tỷ USD (chiếm 35,6%). Tiếp theo là Hàn Quốc đứng thứ hai với 5,61 tỷ USD (26,7%); Đặc khu hành chính Hồng Kông - Trung Quốc (2,91 tỷ USD - 13,8%), Trung Quốc (1,73 tỷ USD - 8,3%), Nhật Bản (1,37 tỷ USD - 6,5%) và Hà Lan (424,3 triệu USD - 2%)...

Những con số mới nhất về kết quả thu hút FDI nêu trên đã một lần nữa khẳng định Việt Nam là một trong những điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư quốc tế. Kết quả này không chỉ phản ánh niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài đối với triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế, mà còn cho thấy sức hút ngày càng lớn của môi trường đầu tư trong nước.

Tăng tốc hấp thụ để theo kịp tốc độ hút vốn

Khi quy mô dòng vốn ngày càng lớn, áp lực để giữ chân dòng vốn chất lượng cao và chuyển hóa các cam kết quốc tế thành giá trị thực cho nền kinh tế trong những tháng cuối năm cũng ngày càng lớn.

Mục tiêu hiện nay không còn là thu hút càng nhiều vốn càng tốt, mà quan trọng hơn là tạo hiệu ứng lan tỏa đối với các khu vực khác của nền kinh tế, đặc biệt là với doanh nghiệp trong nước.

Yêu cầu này càng cấp thiết khi số liệu xuất nhập khẩu mới nhất cho thấy Việt Nam đã nhập siêu liên tiếp từ đầu năm với lũy kế hơn 20 tỷ USD, cho thấy xuất nhập khẩu chưa bền vững, phụ thuộc chủ yếu vào khu vực doanh nghiệp FDI.

Để làm được điều đó, năng lực hấp thụ của nền kinh tế không chỉ là khả năng giải ngân nhanh các dự án, mà còn bao gồm cải cách thủ tục hành chính, chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ và năng lực đổi mới sáng tạo. Đó cũng là lý do nhiều địa phương đang thay đổi chiến lược thu hút đầu tư.

Tại TP HCM, tính đến ngày 24/7, tổng vốn FDI trên địa bàn đạt hơn 9,8 tỷ USD, tăng 144,5% so với cùng kỳ. Con số tăng trưởng này đặc biệt ấn tượng vì 1/7 là mốc đánh dấu tròn một năm sáp nhập TP HCM cũ và Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, phản ánh sức hút ngày càng lớn của trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước sau quá trình mở rộng không gian phát triển.

Sở Tài chính TP HCM dự kiến đến hết quý III, thành phố có thể thu hút khoảng 10 - 12 tỷ USD vốn FDI. Trong bối cảnh đó, theo Chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Văn Được, thành phố đang thay đổi căn bản chiến lược thu hút đầu tư, chuyển trọng tâm sang các dự án có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, có khả năng nghiên cứu và phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ và tạo sức lan tỏa đối với doanh nghiệp trong nước. Đây cũng là bước chuyển từ mục tiêu "thu hút vốn" sang "thu hút tri thức, công nghệ và năng lực quản trị".

Ở cấp độ quốc gia, mới đây, trả lời về các cơ chế, chính sách thu hút vốn FDI nhằm góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) thông tin, đang tập trung triển khai 4 nhóm giải pháp trọng tâm. Bao gồm: hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường các chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút FDI.

Trong đó, Cục cho biết ưu tiên hàng đầu là tiếp tục rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo cao. Song song với đó, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng và môi trường theo hướng liên thông, rút ngắn thời gian xử lý, đặc biệt với các dự án công nghệ cao, bán dẫn, năng lượng và trung tâm dữ liệu.

Bộ Tài chính cũng nhấn mạnh việc cắt giảm các thủ tục liên quan đến cấp giấy phép lao động, thị thực cho chuyên gia nước ngoài nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án FDI quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao. Đồng thời, tăng cường cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương để bảo đảm thực thi chính sách thống nhất, hạn chế tình trạng chồng chéo hoặc áp dụng không đồng nhất giữa các địa phương.

Thời gian qua, Chính phủ đã tích cực triển khai Kết luận số 18-KL/TW, tập trung hoàn thiện thể chế, pháp luật; cải thiện môi trường đầu tư,kinh doanh; hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng; thu hút đầu tư từ mọi thành phần kinh tế.

Tại họp Chính phủ thường kỳ tháng 7 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã đề nghị các bộ, ngành và địa phương thời gian tới tiếp tục rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí logistics, chi phí kiểm tra chuyên ngành và các chi phí không cần thiết khác, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu.

Đặc biệt, về hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, Bộ Tư pháp cùng các bộ, ngành và địa phương bảo đảm tiến độ, chất lượng các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư, kinh doanh và phối hợp với VCCI thường xuyên đánh giá thực chất việc cắt giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp và việc xử lý các kiến nghị của doanh nghiệp.

Nhìn từ những chuyển động trên, kỳ vọng những tín hiệu đáng khích lệ của dòng vốn 7 tháng đầu năm sẽ chuyển hóa, lan tỏa mạnh mẽ tới năng suất lao động, năng lực công nghệ và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước trong những tháng cuối năm. Đây là nền tảng để dòng vốn FDI thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế.

Thành công của Việt Nam trong 4 thập kỷ qua được xây dựng trên tinh thần cởi mở, thực tiễn và cam kết cải cách bền bỉ. Nghị quyết 10 đã cho thấy những phẩm chất ấy vẫn được giữ vững theo thời gian. Mục tiêu giờ đây không còn đơn thuần là thu hút thêm những "cánh chim" mới, điều Việt Nam hướng tới là xây dựng một hệ sinh thái nơi nhà đầu tư lựa chọn ở lại, đổi mới và phát triển, cùng tạo nên một "cánh rừng" vững mạnh hơn để cả nhà đầu tư quốc tế lẫn doanh nghiệp Việt Nam có thể cùng nhau phát triển thịnh vượng.

Ông Richard Barnsley Giám đốc Khối Ngân hàng toàn cầu tại Ngân hàng HSBC Việt Nam

Giai đoạn 2026-2030 sẽ không còn là cuộc cạnh tranh thu hút FDI về quy mô vốn, mà là cuộc cạnh tranh về chất lượng môi trường đầu tư. Nghị quyết 10 đã đặt ra một tầm nhìn rõ ràng cho giai đoạn phát triển tiếp theo, nhưng thách thức lớn nhất là biến các cam kết chính sách thành trải nghiệm thực tế của nhà đầu tư. Nếu các cải cách về thể chế, nhân lực và môi trường kinh doanh được triển khai đồng bộ, Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển từ vị thế tham gia chuỗi giá trị sang vị thế đồng kiến tạo chuỗi giá trị toàn cầu trong thập kỷ tới.

Ông Sử Ngọc Khương Giám đốc cấp cao Bộ phận Tư vấn Đầu tư, Savills Việt Nam

Nghị quyết 10-NQ/TW phản ánh rất rõ định hướng mà chúng tôi đã theo đuổi tại Việt Nam trong nhiều năm qua. Chúng tôi tin rằng giá trị của FDI ngày nay không chỉ nằm ở quy mô vốn đầu tư, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển giao công nghệ, phát triển năng lực nội địa và cùng xây dựng một hệ sinh thái sản xuất bền vững.

Bà Nguyễn Thanh Giang Tổng Giám đốc Tetra Pak Việt Nam

Đỗ Kiều

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/cu-tang-toc-an-tuong-cua-dong-von-fdi-va-bai-toan-nang-cao-nang-luc-hap-thu.html