Cụm, khu công nghiệp Hà Nội: Mở không gian sản xuất, tạo động lực phát triển
LTS: Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố Hà Nội, việc tháo gỡ điểm nghẽn, sử dụng hiệu quả nguồn lực và phát triển khu, cụm công nghiệp xanh, hiện đại, bền vững luôn được thành phố chú trọng. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đề ra, rất cần sự nỗ lực của các bên liên quan trong việc khắc phục những bất cập, hạn chế, tồn tại. Ấn phẩm Hànộimới của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội giới thiệu loạt bài “Cụm, khu công nghiệp Hà Nội: Mở không gian sản xuất, tạo động lực phát triển” phản ánh về vấn đề này.
Bài 1: Làng nghề quá tải, hạ tầng công nghiệp còn bất cập
Nơi ở kiêm nhà xưởng, nguyên liệu sản xuất tập kết tràn ra đường làng, ngõ xóm, xe chở hàng chen chúc trên những tuyến đường làng chật hẹp… Nhu cầu mở rộng sản xuất tại nhiều làng nghề Hà Nội đang vượt khả năng đáp ứng của mặt bằng và hạ tầng. Trong khi đó, một số khu, cụm công nghiệp hình thành từ lâu nhưng vẫn còn bất cập về sử dụng đất, xây dựng và an toàn. Tổ chức lại không gian sản xuất vì thế là yêu cầu cấp thiết, gắn với đời sống người dân và sự phát triển của doanh nghiệp.
Nhu cầu sản xuất lớn, mặt bằng nhỏ

Theo Sở Công Thương Hà Nội, thành phố có khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề, góp phần duy trì nghề truyền thống, tạo việc làm và thu nhập cho người dân khu vực nông thôn. Song, tại nhiều địa bàn, hoạt động sản xuất vẫn diễn ra trong khuôn viên gia đình; nơi ở, nơi làm việc và kho chứa nguyên liệu đan xen, trong khi đường sá, mặt bằng khó đáp ứng nhu cầu sản xuất ngày càng lớn.
Điển hình cho tình trạng quá tải là làng nghề mộc Hữu Bằng (xã Tây Phương) - một trong những trung tâm sản xuất đồ gỗ nội thất lớn của Thủ đô. Đặt chân tới làng nghề, điều dễ nhận thấy nhất là những chiếc xe tải lớn, nhỏ chở hàng nối đuôi nhau ra vào tấp nập. Dọc hai bên đường, hàng trăm hộ dân tận dụng nhà ở làm xưởng xẻ gỗ, xưởng sơn, kho hàng và cửa hàng trưng bày sản phẩm. Vào giờ cao điểm, đường làng thường xuyên rơi vào cảnh ùn tắc. Không chỉ thiếu không gian sản xuất, người dân nơi đây còn phải sống chung với tiếng ồn từ máy móc, bụi gỗ, mùi sơn PU... Khi nhà ở đồng thời là nhà xưởng, ranh giới giữa không gian sinh hoạt và sản xuất bị xóa nhòa, kéo theo những nguy cơ về ô nhiễm môi trường, an toàn và chất lượng cuộc sống.
Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại làng nghề mộc Phù Yên (xã Phú Nghĩa) - nơi có gần 400 hộ làm nghề, chiếm gần 50% số hộ dân trong làng. Sản xuất quy mô lớn nhưng thiếu mặt bằng tập trung khiến nhà ở và xưởng sản xuất đan xen. Hình ảnh quen thuộc tại đây là gỗ và sản phẩm được tập kết từ trong nhà ra ngoài ngõ, chiếm cả những lối đi vốn đã chật hẹp. Gia đình ông Nguyễn Hữu Tưởng (xóm Đồi, thôn Phù Yên) chuyên làm nhà gỗ, đồ thờ, có 8 thợ làm thường xuyên. Trên khu đất hơn 200m², gia đình dành khoảng 1/3 để ở, phần còn lại bố trí máy móc, nguyên liệu và khu vực sản xuất.
Với xã Ứng Thiên, địa phương hiện có 13 làng nghề và làng có nghề như chẻ tăm hương, sản xuất bún, mây tre đan, thu gom phế liệu với 700 hộ sản xuất, tạo việc làm cho khoảng 5.000 lao động. Quy mô sản xuất ngày càng lớn, trong khi hoạt động tập kết nguyên vật liệu và sản xuất vẫn chủ yếu diễn ra trong khu dân cư, khiến không gian làng nghề trở nên quá tải, gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường và mất an toàn.
Tại thôn Xà Cầu (xã Ứng Thiên), nơi có nghề thu gom phế liệu, các loại phế liệu được thu gom, phân loại, sơ chế ngay trong khu dân cư, thậm chí phế liệu được tập kết ra cả một số khu đất nông nghiệp. Do điều kiện mặt bằng, cơ sở vật chất tại các hộ thu gom còn hạn chế, nên nguy cơ mất an toàn phòng, chống cháy nổ là rất lớn.
Tại làng nghề cơ kim khí Phùng Xá (xã Tây Phương), hình ảnh xưởng cơ khí nằm san sát, len giữa các ngôi nhà trong khu dân cư không còn quá xa lạ. Dọc các tuyến đường, sắt thép, vật liệu sản xuất được chất thành từng đống, thu hẹp cả lối đi. Bên trong các xưởng sản xuất, máy cắt, máy hàn, máy gia công kim loại hoạt động liên tục, tiếng máy móc hòa cùng tiếng va đập của sắt thép tạo nên âm thanh đặc trưng của một làng nghề cơ khí.
Hiện tại, nhiều cơ sở ở làng nghề đã chú trọng đầu tư máy móc tự động, bán tự động nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng lớn. Nhưng việc cơ giới hóa kéo theo nhu cầu về không gian sản xuất, tập kết nguyên vật liệu, vận chuyển hàng hóa và bảo đảm khoảng cách an toàn. Một khi các xưởng sản xuất còn nằm xen kẽ trong khu dân cư thì tiếng ồn, khói bụi và nguy cơ cháy nổ vẫn hiện hữu...
Từ đồ gỗ, cơ kim khí đến thu gom phế liệu, mỗi nghề có đặc điểm riêng nhưng cùng chung một điểm dễ nhận thấy là đều bị hạn chế phát triển khi không gian sản xuất nằm sát không gian sinh hoạt. Việc duy trì, phát triển nghề vì vậy cần gắn liền với yêu cầu cải thiện điều kiện sống của người dân làng nghề.
Mặt bằng sản xuất tập trung còn bất cập

Sản xuất quy mô lớn nhưng thiếu mặt bằng tập trung khiến đường đi trong làng nghề mộc Phù Yên (xã Phú Nghĩa) được tận dụng làm nơi tập kết nguyên vật liệu gỗ. Ảnh: Thiện Mỹ
Để đáp ứng nhu cầu sản xuất tập trung, Sở Công Thương Hà Nội đã thành lập 129 cụm công nghiệp với tổng diện tích 3.268,02ha, trong đó có 74 cụm công nghiệp làng nghề. Các cụm công nghiệp đã thu hút 4.192 hộ, doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh với khoảng 61.000 lao động. Riêng cụm công nghiệp làng nghề thu hút 3.285 hộ, doanh nghiệp với khoảng 20.000 lao động. Đây là những kết quả tích cực trong tạo mặt bằng và việc làm cho người dân. Tuy nhiên, quá trình hoạt động ở một số nơi vẫn phát sinh bất cập.
Cụm công nghiệp làng nghề Vạn Điểm (xã Phú Xuyên) có quy mô 7,2ha. Năm 2006, UBND huyện Thường Tín (cũ) xét duyệt 190 hộ được thuê đất tại điểm công nghiệp, nay là cụm công nghiệp này. Qua rà soát, hiện có 317 hộ hoạt động, tăng 127 hộ so với quyết định cho thuê đất. Kết luận số 4553/KL-TTTP ngày 20-9-2024 của Thanh tra thành phố chỉ rõ, UBND xã Vạn Điểm trước đây tự ý giao đất cho các hộ không đúng đối tượng, diện tích và vị trí theo quyết định cho thuê. Các hộ tiếp tục chia tách, chuyển nhượng mà không làm thủ tục. Trên đất sản xuất xuất hiện nhà ở kết hợp xưởng sản xuất, có công trình xây dựng trên diện tích quy hoạch cây xanh. Những thay đổi này làm sai lệch công năng của không gian được bố trí phục vụ sản xuất tập trung.
Tại Cụm công nghiệp làng nghề gỗ Văn Tự (xã Phú Xuyên), Kết luận số 4111/KL-TTTP ngày 28-8-2024 của Thanh tra thành phố cũng nêu nhiều vi phạm. Trong 86 thửa đất quy hoạch sản xuất, có hộ tự chia thành 2-3 thửa nhỏ. Có 23 thửa sử dụng một phần làm nhà xưởng, phần còn lại xây nhà bê tông, biệt thự cao 2-3 tầng; có 27 công trình nhà bê tông cốt thép…
Tương tự, Cụm công nghiệp làng nghề Dương Liễu (xã Dương Hòa) rộng 12,05ha với 169 lô đất đã phát sinh hàng loạt vi phạm nghiêm trọng được chỉ rõ tại Kết luận số 4839/KL-TTTP ngày 28-9-2023 của Thanh tra thành phố. Cụ thể, có 32 trường hợp (tương ứng 51 lô đất) chậm hoặc chưa đưa đất vào sử dụng, 17 lô bị tự ý cho thuê lại và 25 lô biến tướng thành nhà hàng, quán bia, văn phòng. Đáng nói, 43 trường hợp xây dựng sai phép, trong đó 22 công trình lấn chiếm khoảng lùi và đường giao thông nội bộ để hợp khối xưởng; 15 công trình tự ý nâng tầng, xây hầm, tum, nhiều nhà xưởng biến thành biệt thự, làm phá vỡ toàn bộ quy hoạch chung...
Tại Cụm công nghiệp làng nghề cơ kim khí Phùng Xá, đường nội khu chật hẹp, sản phẩm tập kết phía trước cơ sở, mái tôn đua ra làm hạn chế khoảng không. Những biểu hiện này cho thấy yêu cầu giữ gìn hạ tầng, lối đi và cảnh quan phải được thực hiện ngay trong hoạt động thường ngày của đơn vị quản lý, cơ sở sản xuất.
Việc xây dựng, sử dụng đất không đúng quy hoạch còn ảnh hưởng đến điều kiện hoạt động chung. Một số vụ cháy tại Cụm công nghiệp Quất Động (xã Thượng Phúc), Cụm công nghiệp Ngọc Hòa (phường Chương Mỹ), Khu công nghiệp An Khánh (xã An Khánh) xảy ra trong thời gian qua là hồi chuông cảnh báo về công tác quản lý, đặt ra yêu cầu kiểm tra thường xuyên điều kiện hoạt động tại các nhà xưởng và hệ thống hạ tầng chung của các cụm công nghiệp.
Trong khi cụm công nghiệp còn nhiều bất cập thì các khu công nghiệp cũng còn nhiều vấn đề phải được quan tâm. Khảo sát tại Khu công nghiệp Thạch Thất - Quốc Oai, phóng viên ghi nhận một số tuyến đường nội khu nhếch nhác, rác thải vứt bừa bãi, hàng quán lấn chiếm vỉa hè. Trong khi đó, tiến độ thực hiện tại một số dự án khu công nghiệp khác còn chưa đồng đều; một số tồn tại được đề cập nhiều lần nhưng chuyển biến còn chậm. Công tác giải phóng mặt bằng tại nhiều khu vực còn manh mún; hạ tầng trong và ngoài hàng rào khu công nghiệp chưa đồng bộ. Một số chủ đầu tư chưa thực hiện đầy đủ cam kết về nguồn lực, ký quỹ và tiến độ đầu tư. Công tác bảo vệ môi trường, quản lý trật tự xây dựng và phòng cháy, chữa cháy tại một số khu vực vẫn tiềm ẩn nguy cơ.
Sức ép từ làng nghề và những tồn tại tại khu, cụm công nghiệp trên địa bàn Hà Nội cho thấy tổ chức lại không gian sản xuất phải đi cùng với việc giữ đúng công năng, bảo đảm an toàn và bảo vệ môi trường. Bên cạnh yêu cầu hoàn thiện hạ tầng là bất cập giữa nhu cầu của cơ sở sản xuất với khả năng tiếp cận mặt bằng. Những rào cản về chi phí, diện tích thuê và quản lý cần được làm rõ để nguồn lực đã đầu tư được khai thác hiệu quả.
(Còn nữa)

