Cùng quân dân Trần Đề vui Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải
Là một trong những lễ hội quan trọng, được tổ chức với quy mô lớn ở khu vực duyên hải Tây Nam Bộ, Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải nơi cửa biển Trần Đề, thành phố Cần Thơ là tín ngưỡng dân gian đã được ngư dân vùng biển này gìn giữ, truyền lại qua bao thế hệ, với mong muốn cầu cho quốc thái dân an, tàu thuyền ra khơi, vào lộng bình yên, đánh bắt được nhiều tôm cá, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Năm 2019, Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Tàu tuần tra của Bộ đội Biên phòng thành phố Cần Thơ làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự cho Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải. Ảnh: Văn Long
Năm nay, sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, lần đầu tiên Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải được tổ chức công phu ở cấp thành phố với hai phần chính: Lễ rước và Lễ tế truyền thống. Như thông lệ những năm trước, cán bộ, chiến sĩ Hải đội Biên phòng 2 và Đồn Biên phòng Trung Bình, Bộ đội Biên phòng thành phố Cần Thơ đảm nhận nhiệm vụ bảo đảm an toàn cho lễ hội.
Sáng sớm ngày chính lễ, theo chân cán bộ Đồn Biên phòng Trung Bình xuống bãi, tôi đã thấy hàng trăm chiếc tàu đánh cá cờ hoa rực rỡ, đứng xếp dãy dài trên vịnh biển để chờ hộ tống kiệu. Bà con xúng xính khăn áo, í ới gọi nhau qua các nếp nhà để chuẩn bị cho lễ rước khởi đầu từ Lăng Ông. Ban Tổ chức là những lão niên, người có uy tín trong vùng kiểm tra kỹ lưỡng khu vực hành lễ, kiểm tra phương tiện tham gia nghi thức trên biển, trao đổi với Bộ đội Biên phòng rà soát phương án bảo đảm an ninh trật tự, giao thông, y tế, vệ sinh môi trường, hậu cần và đón tiếp người dân, du khách... Tất cả đều được tiến hành rất nhịp nhàng, cẩn trọng.
Nhìn dòng người tất bật chuẩn bị, bất giác, hương cá khô vừa mới se se nửa nắng còn thoang thoảng đâu đó trên những giàn phơi. Tôi bỗng nhận ra rằng, dẫu bốn bề là biển cả, nhưng ở đây chỉ có nước biển mặn thôi, còn tình người thì ngọt bùi. Người cửa biển Trần Đề sao mà hiền từ, mến khách; đã thương là thương trọn, đã nhớ thì nhớ sâu. Hết thảy đều không thể nửa vời. Phải chăng vì sống giữa bao la trời, bao la biển này, người ta phải học cách thương nhau để khỏi cô độc.
Đại úy Nguyễn Huỳnh Việt Huy, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Trung Bình cho tôi biết, xã Trần Đề là địa bàn ven biển, phần lớn người dân sống bằng nghề khai thác thủy sản nên nhiều ngư dân thường xuyên đi biển dài ngày. Nhưng vào dịp này, tất cả tàu thuyền đều về bến, dù biết trên biển có luồng cá mới. Đối với nhân dân trên địa bàn, Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải không chỉ là một sự kiện tín ngưỡng, mà còn là một nhu cầu văn hóa tinh thần quan trọng trong tâm thức của đồng bào. Anh cũng kể về nguồn gốc của lễ hội rằng, từ xa xưa, bà con quan niệm cá Ông là phúc thần trên biển, thường xuyên cứu giúp, dìu dắt tàu thuyền bị nạn về nơi an toàn.
Vào năm 1955, tại Bãi Giá (thuộc xã Trung Bình, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng cũ), ngư dân phát hiện xác một cá Ông lớn trôi dạt vào bờ. Từ niềm tin và lòng tri ân, bà con ngư dân đã vớt xác Ông lên để an táng và lập miếu thờ bằng tranh tre đơn sơ. Kể từ đó, việc đánh bắt của những làng biển nơi đây đều rất thuận lợi. Đến năm 1983, bà con đã làm lễ xin dời việc thờ cúng cá Ông từ miếu về xã Trần Đề hiện nay, xây dựng lăng thờ và đặt tên là Lăng Ông Nam Hải. Nhân dân cắt cử một Ban Trị sự để quản lý, chăm lo hương khói cho lăng và tổ chức lễ hội thường niên vào các ngày 21, 22 và 23 tháng 3 âm lịch.

Ban Quản trị thực hiện nghi thức dâng hương tại Lăng Ông. Ảnh: Văn Long
Và rồi tiếng nhạc lễ tưng bừng vút lên giữa không gian mênh mông biển trời kéo tôi ra khỏi vùng suy nghĩ miên man. Hàng người dài gần 3km nối theo nhau rước kiệu Nam Hải tướng quân ra biển, lên chiếc tàu lớn nhất, được trang hoàng đẹp như thuyền rồng, có cờ phướn và các vật phẩm cúng tế bày sẵn nơi mũi tàu. Khi tàu chở kiệu rẽ sóng ra khơi, những chiếc còn lại cũng lần lượt nối đuôi hộ tống thành hàng dài tiến ra khơi xa để thỉnh cá Ông. Tiếng máy tàu vốn ồn ào là thế mà giờ đây đã phải nhường chỗ cho sự huyên náo của tiếng trống, tiếng pheng la dập dồn theo điệu múa lân. Hàng trăm chiếc tàu mang theo cả nghìn người, nét mặt hân hoan, tay cầm cờ hò reo... tạo nên một khung cảnh đầy cảm xúc, vừa uy nghiêm, thành kính, vừa hứng khởi, háo hức.
Trong hải trình ra biển, đoàn nghi lễ tiến hành các nghi thức cúng vái, dâng hương và đọc văn tế cầu cho quốc thái dân an, sóng yên biển lặng, ngư dân đánh bắt thuận lợi. Trên các tàu còn lại, gia đình chủ tàu cũng thắp hương tại các mâm lễ đã chuẩn bị sẵn gồm nhang đèn, heo quay, vịt luộc, hoa quả... Sau khi hoàn tất việc cúng vái Đức Ông Nam Hải, đại diện đoàn nghi lễ sẽ “xin keo” cầu may. Nếu nhận được tín hiệu “thành công”, nghĩa là Ông đã chứng cho lòng thành và lời thỉnh nguyện của ngư dân, tàu rước kiệu sẽ phát hiệu lệnh để đoàn tàu quay vào bờ trong niềm hân hoan, hò reo đón chờ của hàng nghìn người trên bến.
Rồi kiệu lại được rước lên bờ, đoàn nghi lễ tiếp tục diễu hành và hầu Ông về lăng với các nghi thức rất trang trọng. Trong điệu nhạc lễ, điệu múa lân..., bà con dâng lên Ông những sản vật của biển mà ngư dân đã đánh bắt được, cùng những nông sản trồng cấy được trong vụ mùa gần nhất. Đến 9 giờ 30 phút là Lễ cúng Tiên sư, 12 giờ 30 phút là Lễ cúng Tiên hiền và 13 giờ 30 phút là Lễ cúng Ông, khép lại phần lễ.
Phần hội cũng là một nét đẹp của biển Trần Đề khi nhân dân và du khách cùng tham gia những trò chơi dân gian, thi đấu thể thao như kéo co, bóng chuyền, bi sắt... Khi mặt trời lên cao quá đỉnh đầu, Ban Trị sự phân công người mang những lễ vật đã cúng xong ra tiếp đãi quan khách đến thắp nhang cho Ông. Mọi người quây quần với chén trà, ly rượu, thể hiện tình đoàn kết, khăng khít của nhân dân trong vùng, tính phóng khoáng và lòng mến khách của ngư dân nơi đây. Buổi tối, Lăng Ông tổ chức hát bội, ca cổ phục vụ nhu cầu tinh thần và giao lưu văn hóa cho mọi người về dự lễ.
Điều đáng trân trọng là lễ hội có sự tham gia rất đông đảo, nhiệt tình của thanh, thiếu niên trong xã. Qua sự giáo dục của gia đình, qua trải nghiệm từ những mùa lễ trước, thế hệ trẻ ở xã Trần Đề đã hiểu vì sao cha ông thờ cá Ông, vì sao phải tri ân biển, vì sao nghề biển cần đoàn kết, kỷ luật và tương trợ. Và rồi những người trẻ ấy đã nhiệt tình, năng nổ đứng ra gánh vác nhiều phần việc quan trọng của lễ hội, tham gia với tư cách thành viên cộng đồng, là người kế thừa ký ức và trách nhiệm giữ gìn di sản biển.
Sóng biển cứ vỗ vào đất liền ngàn đời, nhưng ngọn sóng ở Trần Đề hôm nay bỗng có gì hơi khác. Những ngọn sóng bao ngày vỗ về phù sa, vỗ về tôm cá bỗng như giãn ra, nghỉ ngơi trong ngày lễ hội. Sau những tháng ngày bận mải khơi lộng, những chiếc tàu thảnh thơi nằm trên bến suốt 3 ngày. Rồi sau đó, cả đoàn tàu vẫn còn nguyên cờ phướn rạng rỡ, tràn đầy niềm tin vào một mùa biển mới, đồng loạt xuất bến. Lễ hội chính thức khép lại, nhân dân quay trở về nhịp sống ngày thường.
Lời thỉnh nguyện quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, tàu thuyền bình an, mùa biển thuận lợi đã theo sóng biển, theo gió chướng mà bay đến những nơi có thần biển, cá Ông trú ngụ. Lời thỉnh nguyện ấy chính là nghi thức của cả một cộng đồng đoàn kết, có chung một niềm tin, một ý thức tưởng nhớ, tri ân biển cả và nhắc nhở nhau về vai trò của thiên nhiên đối với đời sống con người.











