Tôi, người học trò của ba thập kỷ trước thử sức với đề thi Ngữ văn của 2k8

Đọc đề thi Ngữ văn năm nay, lòng tôi dâng lên một niềm trắc ẩn mạnh mẽ, khiến tôi muốn đặt mình trở lại làm một thí sinh chuyên Văn Lam Sơn của ba mươi năm trước để viết nên những suy tư này, như một sự đối thoại giữa hai thế hệ trước một tác phẩm giàu chất triết luận.

Hôm nay, chào cô con gái nhỏ bước qua cổng trường trong ngày mà con cùng các sĩ tử 2k8 bước vào ngày đầu tiên của Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, lòng tôi chợt thoáng bâng khuâng. Ngót 30 năm trước, tôi cũng từng là một học sinh chuyên văn Lam Sơn, ôm tập tài liệu cũ, lo lắng bước qua chiếc cổng này để đối mặt với bước ngoặt cuộc đời.

Thật trùng lặp khi địa điểm thi tốt nghiệp của con gái hôm nay lại chính là ngôi trường thân yêu ngày xưa tôi học trên phố Lê Quý Đôn, nơi mà nay là địa chỉ trường THPT Đào Duy Từ. Nhìn bóng dáng con nhỏ dần khuất sau hành lang lớp học, kỷ niệm về một thời hoa niên nghèo khó dưới mái trường cũ chợt ùa về dâng trào.

Đọc đề thi Ngữ Văn năm nay, lòng tôi dâng lên một niềm trắc ẩn mạnh mẽ, khiến tôi muốn đặt mình trở lại làm một thí sinh chuyên Văn Lam Sơn của ba mươi năm trước để viết nên những suy tư này, như một sự đối thoại giữa hai thế hệ trước một tác phẩm giàu chất triết luận.

Dưới đây là toàn bộ bài làm của tôi khi hóa thân thành người học trò năm 1996:

Trong vườn nhà tôi, những đêm mưa bão thời bao cấp, tiếng lá rụng vào mái tôn fipro -xi-măng luôn là một thứ âm thanh vừa quen thuộc vừa đầy lo âu. Tuổi thơ của những đứa trẻ lớn lên trong gian khó như chúng tôi gắn liền với hiên nhà, với những buổi trưa trốn học đi nhặt củi non, hái lá khô về phụ mẹ nhóm bếp. Chiếc lá, ngọn cỏ gắn bó thân thiết như da thịt, như hơi thở hằng ngày. Chính vì vậy, khi đứng trước bài thơ “Những chiếc lá” của Nguyễn Đình Thi, lòng tôi chợt nhói lên một niềm thấu cảm sâu sắc.

Bằng một lối thơ trữ tình giàu suy tưởng, nhà thơ đã dắt ta đi từ quy luật tự nhiên của những chiếc lá dâng hiến cho đời, để rồi chạm vào những vỉa tầng triết học lớn lao về thân phận con người và giá trị nhân văn cao cả của sự sống.

Trước hết, bài thơ mở ra một thế giới tự nhiên rất đỗi gần gũi và chứa chan tình yêu thương qua lời tự thuật của chính những chiếc lá. Nguyễn Đình Thi dõi theo trọn vẹn cả một chặng đường cống hiến kiêu hãnh của chúng:

“Đâu những ngày xuân, chúng ta xòe biếc đón về ríu rít những đàn chim

Những buổi trưa hè, chúng ta um tùm che mát cho người đi đường mồ hôi nhễ nhại

Những chiều thu nhẹ trong, chúng ta thắp vàng trên đầu bao đôi người yêu”.

Cái màu “xòe biếc” của ngày xuân, đối với những đứa trẻ quê, chính là màu của hy vọng, màu của sự sinh sôi nảy nở vượt lên trên đất cằn. Nhà thơ trân trọng từng khoảnh khắc sống của lá, xem mỗi chặng đường ấy là một mảnh ghép làm nên vẻ đẹp trọn vẹn của cuộc sống. Lá sống hết mình dưới ánh ban mai, dâng hiến bóng mát cho người lao động “mồ hôi nhễ nhại” giữa trưa hè, dệt nên cái lãng mạn cho “bao đôi người yêu” lúc thu sang. Mỗi chiếc lá đã sống một cuộc đời trọn vẹn và ý nghĩa, tận hiến tất cả nguồn năng lượng tinh túy nhất cho đời.

Tuy nhiên, từ quy luật tuần hoàn của thiên nhiên, Nguyễn Đình Thi đã chuyển dịch tư duy sang quy luật nghiệt ngã của đời người. “Những chiếc lá” chính là ẩn dụ cho thân phận con người trong dòng chảy dằng dặc của thời gian. Nhà thơ bằng cái nhìn trắc ẩn của một người đã đi qua những năm tháng dâu bể, đã không né tránh những góc sáng tối, những mảng màu tương phản trong cuộc sống:

Chiều lạnh cóng, vườn cây vắng tanh, gió thổi bay lao xao những chiếc lá rụng trên mặt cỏ

Những chiếc lá nâu, đen, rách quăn queo

Đến hôm nay, gió bấc đã dứt chúng ta, ném xuống đất bụi”.

Giọng thơ chợt chùng xuống, mang theo cái lạnh gắt của những biến động khôn lường. Đời người cũng vậy. Thế hệ chúng tôi, lớn lên từ những buổi xếp hàng đong gạo, chứng kiến cha mẹ thắt lưng buộc bụng qua thời đói kém, hiểu rất rõ cái nhọc nhằn, mong mỏi của kiếp người nhỏ bé. Có những kiếp người lam lũ, khuất lấp, chịu nhiều tổn thương đến mức “rách quăn queo”, sống và chết lặng lẽ như chiếc lá rơi trong vườn hoang khi mùa đông tới. Giọng thơ trầm buồn, sâu lắng của Nguyễn Đình Thi ở chặng này chạm vào nỗi đau nhân sinh, gợi mở một tư duy triết học sâu sắc về sự hữu hạn và những thử thách nghiệt ngã mà con người phải đối mặt.

Nhưng điều kỳ diệu nhất, làm nên giá trị nhân văn cao cả của tác phẩm, chính là sự chuyển dịch từ nỗi đau sang niềm sưởi ấm, từ sự tàn phai sang sự hồi sinh. Khi chiếc lá già rụng xuống, nó không biến mất vào hư vô, nó không đem đến sự chết chóc bi lụy. Nguyễn Đình Thi đã đưa người đọc về với không gian vô cùng thân thuộc của làng quê Việt Nam:

“Chiều lạnh cóng, những chiếc lá rụng bay lao xao trong vườn cây

Ai bé nhỏ vừa đi tới

Giữa gió buốt, chú bé lụi hụi xuýt xoa, loạt xoạt, loạt xoạt, chiếc chổi tre quét trên mặt cỏ

Sắp tối rồi. Chú bé ôm từng ôm lá nén vào chiếc bao tải dần căng phồng

Đi đâu, chú bé vác bao tải to, trên con đường đầu ô bụi bặm

Đây rồi, dưới mái bếp tranh, chú bé ngồi vốc từng nắm lá khô nhóm lửa, đặt nồi cơm, đợi mẹ đi làm về

Khói hắc hắc thơm thơm bay lên

À, à, vậy chứ, - những chiếc lá reo phù phù, nhảy nhót”.

Hình ảnh đứa trẻ “lụi hụi xuýt xoa” quét lá trong gió buốt gợi nhắc mạnh mẽ đến tuổi thơ gian khó của chính tôi và biết bao bạn bè cùng trang lứa năm 1996. Những chiếc lá rụng tưởng như đã kết thúc vòng đời, giờ đây lại hóa thân một lần nữa dưới mái bếp tranh nghèo. Chúng tự nguyện cháy lên, tỏa ra làn khói “hắc hắc thơm thơm” để nhóm lửa, để nấu chín nồi cơm đợi mẹ về. Triết lý ấy sao mà thân thương và giống đời thực đến thế! Nó gợi tôi nhớ đến hình ảnh của ông bà, cha mẹ mình, những người đã cam chịu “úa vàng”, chịu mọi gian khổ của một thời kỳ thiếu thốn, nhường từng bát cơm bo bo, từng tấm áo lành cho con trẻ.

Sự hy sinh của thế hệ đi trước chính là ngọn lửa ấm áp nuôi dưỡng cho thế hệ đi sau lớn khôn. Sự rụng rơi và bốc cháy của lá không mang màu sắc bi thương mà hiện lên với một tâm thế vui tươi, đầy sinh lực qua cái “reo phù phù, nhảy nhót”. Đó là sự bất tử của sự sống, là sợi dây nối kết thiêng liêng giữa các thế hệ người Việt Nam.

Về mặt nghệ thuật, Nguyễn Đình Thi đã phát huy triệt để thế mạnh của thể loại thơ trữ tình giàu chất triết luận. Bài thơ mở đầu bằng một thể thơ tự do phóng khoáng, câu chữ kéo dài như dòng tự sự của lá, nhưng nửa sau lại chuyển sang nhịp điệu ngắn, dồn dập với những từ láy tượng hình, tượng thanh độc đáo như “lao xao”, “xuýt xoa”, “loạt xoạt”, “phù phù”. Hệ thống hình ảnh trong bài thơ vừa mang tính tả thực, vừa mang tính biểu tượng cao sâu: chiếc lá quăn queo, bao tải lá khô, mái bếp tranh. Ngôn ngữ thơ dồn nén, đi thẳng vào lòng người bằng những khoảng lặng đầy chiêm nghiệm của một hồn thơ giàu nội tâm.

Bước ra từ những năm tháng gian lao của thế kỷ cũ, nhìn đứa con gái yêu thương đang tiếp nối chặng đường mới ngay tại ngôi trường cũ, tôi nhận ra đề thi Văn bây giờ đã khác xa thời của chúng tôi ngày trước. Thời trước, chúng tôi làm văn trong khuôn khổ của những bài học chính luận, những phân tích khuôn mẫu và bám sát sử thi hùng tráng. Đề thi năm 2026 mang tính gợi mở rất cao, đòi hỏi tư duy độc lập, sự thấu cảm bản thể và năng lực tiếp nhận thể loại một cách khoa học. Sự thay đổi này chứng minh tư duy của thời đại đã tiến những bước rất dài.

Qua bài văn mang hơi thở của 30 năm trước, tôi mong muốn các con, các bạn trẻ thế hệ hôm nay hãy trân trọng cơ hội được mở rộng biên độ sáng tạo. Mong các con hiểu được giá trị của sự cống hiến thầm lặng như những chiếc lá, biết nhìn thấu những góc sáng tối của cuộc đời để sống bản lĩnh hơn, bao dung hơn và luôn giữ cho tâm hồn mình một ngọn lửa sưởi ấm nhân gian.

Trương Xuân Thiên

Ảnh: Hoàng Đông

Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/-nguoi-hoc-tro-cua-ba-thap-ky-truoc-thu-suc-voi-de-thi-ngu-van-cua-2k8-43802.htm