Cùng trăng đi cấy
Mặt trời đã tụt xuống rặng núi xa, chỉ để lại ráng đỏ đằng tây. Mẹ giục cả nhà vào bữa cơm chiều để còn đi cấy. Cơm vừa xong, đã thấy vầng trăng nhô lên sau lũy tre. Chưa kịp rửa bát, mấy bà, mấy chị đã đứng ngoài hàng rào í ới rủ nhà tôi ra đồng. Đó là những đêm 'cùng trăng đi cấy' thời chưa có 'cơ giới hóa', những đêm trăng đẹp đẽ đằm trong ký ức thuở non tơ, khi lũ trẻ chúng tôi mới lên tám, lên mười, ở những mùa hè đã xa...

Trên cánh đồng làng bắt đầu ngả sang màu đêm, từng tốp từng tốp nông dân lần lượt xuất hiện. (Tranh minh họa)
Đi cấy đêm là để tránh cái nắng như nung của những ngày hè, như nhà thơ Trần Đăng Khoa từng phác họa: “Nước như ai nấu/ Chết cả cá cờ/ Cua ngoi lên bờ/ Mẹ em xuống cấy"...
Ban ngày chạy lúa, phơi rơm, ban đêm đi cấy. Đó là những công việc cấp tập của người nông dân trong những ngày làm mùa, vừa phải gặt, phơi, vừa nhanh chóng làm đất, xuống giống cho kịp vụ hè thu. Lũ trẻ chúng tôi đã nghỉ hè nên cũng được huy động phụ việc cho kịp mùa màng. Đứa bé nhất tầm 8 tuổi đã cùng người lớn ra đồng học việc nhà nông, cũng thức cùng trăng không khác gì người lớn. Con gái học cấy, con trai học tát nước, be bờ; những anh lớn thì học cày bừa, tát nước.
Trên cánh đồng làng bắt đầu ngả sang màu đêm, từng tốp từng tốp nông dân lần lượt xuất hiện. Đàn ông thì cày, bừa cùng những chú trâu; phụ nữ thì gánh mạ và cấy; vài ba nhóm thanh niên trẻ khỏe tát gàu giai, gàu sòng... Tiếng nói cười, trêu ghẹo nhau rộn ràng khắp các bờ vùng bờ thửa. Ánh trăng bàng bạc trên mặt ruộng, lùa theo bước chân người như đùa cợt. Gió từ sông thổi vào đồng lồng lộng, xua đi cái nóng bức ngột ngạt ban ngày. Hương thơm từ đầm sen theo gió tràn ngập khắp không gian, len vào hơi thở làm mát cả buồng gan lá phổi. Quang cảnh “gió mát trăng thanh” khiến lòng người phơi phới mà quên đi nỗi vất vả của công việc “chân lấm tay bùn”.
Bên bờ mương nhỏ, mấy chú thanh niên lực lưỡng vừa guồng dây gàu, vừa ngỏ lời hát ghẹo mấy o đang cấy gần đó: “Hò ơ... Em đừng cấy rẽ nhà người/ Sang đây tát nước, anh nuôi cả nhà!”.
Mấy o đấm lưng nhau thùm thụp, ép một o trong bọn hợp cảnh với người hát ghẹo nhất phải hát đối lại.
Sau một hồi đùn đẩy, cuối cùng tiếng hát đối cũng cất lên: “ Hò ơ... Anh đà nuôi nổi anh chưa/ Còng lưng tát nước, vẫn đói chua cả mồm"...
Giọng ca lảnh lót, đáp lại đối phương một cách trào lộng, có phần ngoa ngoắt, khiến mọi người cười ồ lên. Người tát nước vẫn không chịu thua, tiếp tục tìm từ ngữ, đặt câu để hát ghẹo tiếp. Những câu hò đối đáp cứ thế vang lên, có khi tình tứ, dịu dàng, có khi ghê gớm, đanh đá... làm mọi người vừa thán phục tài năng gieo vần, vận ý của người hát đối, vừa cảm thấy phấn khích hơn. Nghe những lời đối đáp của các o, các chú, lũ trẻ chúng tôi cũng được mở mang đầu óc, vốn từ ngữ văn học phong phú dần lên cũng nhờ được tham dự những đêm trăng đi cấy cùng người lớn.
Dù cười đùa trêu ghẹo nhau không ngớt, nhưng những bàn tay vẫn thoăn thoắt không ngừng. Trăng lên một con sào, hai con sào, rồi vượt lên đến giữa bầu trời, ánh sao nhấp nhánh xen lẫn những cụm mây trắng lơ thơ, làm cho không gian cánh đồng đêm càng trở nên thơ mộng. Dòng nước từ miệng gàu được hất tung lên không trung trước khi rơi xuống mặt ruộng, tạo nên ánh sắc nhấp nhánh, huyền ảo dưới trăng.
Mạ vơi dần, những dây gàu sòng, gàu giai chùng xuống. Mọi người rủ nhau lên bờ ngồi nghỉ. Những bác lớn tuổi thì thụp đấm lưng, xoa gối vì ở tư thế đứng lâu, cúi thấp. Vài gói ngô rang, lạc luộc được mở ra, ấm nước chè xanh được ủ kỹ nên vẫn còn nóng. Quây quần trên bờ ruộng, mọi người tâm sự, chia sẻ cùng nhau chuyện nhà cửa, chuyện làng xóm. Những thanh niên nam nữ được dịp ngồi gần nhau hơn. Thay vì những câu đối đáp có phần kênh kiệu, đỏng đảnh hồi nãy, các o trở nên e thẹn khi giáp mặt các chú, cách nói chuyện giữa hai bên mang âm sắc tâm tình nhiều hơn. Nhờ những đêm trăng trên đồng ấy mà đã có nhiều người thành vợ thành chồng; mùa trước vừa giúp nhau be bờ, tát nước, mùa sau đã nghe tiếng pháo nổ, rượu nồng...
Khi chán làm, bầy trẻ chúng tôi rủ nhau đi bắt cua. Các anh lớn truyền cho tụi nhỏ những “chiêu” để phát hiện ra lỗ cua, và cách phân biệt lỗ cua với lỗ lươn, rắn, chuột. Có đứa bạo gan, thò hẳn tay vào hang cua mồi bị cắp cho đau điếng, khóc ré lên khiến người lớn hết hồn, cứ tưởng con mình bị rắn cắn. Có những cái đìa sau khi tát cạn, nghe có tiếng quẫy nước, mọi người lại dô nhau lội xuống để hôi cá. Dù ánh trăng chỉ nhờ nhờ tranh tối tranh sáng, nhưng với những người “sát cá”, chỉ cần nghe tiếng bọt nước, hoặc âm thanh đặc biệt nào đó trong bùn, ngay lập tức thò tay xuống là có một con lươn, con chạch bị tóm cổ.
Cùng đứng ở một điểm trên rệ cỏ, tôi cũng cố lắng nghe xem có gì lạ, nhưng không phát hiện ra gì hết, thế mà anh hàng xóm lại nói: “Ở đây có nhiều lươn lắm”. Anh đưa cái giỏ cho tôi cầm, rồi khẽ khàng chùn tay xuống nước, chộp một phát được ngay chú lươn béo, thân tròn to bóng lưỡng. Anh cứ đi dọc bờ mương một lúc, tôi xách giỏ lẽo đẽo theo sau, đến lúc ra về được một giỏ lươn nặng cật, tôi đeo vẹo cả hông nên phải chuyền sang tay người lớn.
Trăng chếch về bên tây cũng là lúc mọi người rủ nhau ra về. Sau một đêm lặn mọ trên đồng, về đến nhà tôi lăn đùng ra phản gỗ, ngủ một giấc quên trời đất. Vì ngủ say nên chẳng biết trăng lặn lúc nào, chỉ biết lúc thức dậy đã thấy mùi hành răm thơm lừng tỏa ra từ bếp. Hóa ra mẹ và bác hàng xóm thức luôn đến sáng để làm thịt lươn, nấu nồi cháo sánh đặc, mời mấy nhà cùng ngõ ăn chung.
Tôi lớn lên, rời xa đồng quê để lên phố thị. Các o, chú năm xưa dần bước sang tuổi ông, tuổi bà. Mấy anh chị lớn, người thì ở lại quê nhà cày sâu cuốc bẫm, người thì ra Bắc vào Nam lập nghiệp. Nhưng cứ mỗi lần về thăm quê, có dịp gặp nhau, chúng tôi đều không quên ôn lại kỷ niệm những đêm hè “cùng trăng đi cấy”.
Nhờ những tháng ngày tuổi thơ đượm mùi bùn đất, những buổi “ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng” ấy, chúng tôi mới thấm đẫm nỗi vất vả của ông bà, cha mẹ mình, biết trân quý hạt gạo “một nắng hai sương”, và nuôi dưỡng trong mình tình yêu lao động, tình yêu quê hương.
Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/cung-trang-di-cay-43937.htm











