Cuộc đua sức bền và xanh hóa của ngành thép

Trước áp lực chi phí, thị trường, bảo hộ thương mại và môi trường, ngành thép Việt Nam bước vào giai đoạn cạnh tranh mới. Cuộc đua không còn nằm ở sản lượng hay thị phần mà ở sức bền tài chính, công nghệ và chuyển đổi xanh.

Doanh nghiệp thép trước áp lực tái cấu trúc. Ảnh: TL

Doanh nghiệp thép trước áp lực tái cấu trúc. Ảnh: TL

Điểm gãy của chu kỳ tăng trưởng nóng

Diễn biến tại Công ty cổ phần Thép Pomina (POM) gần đây phần nào phản ánh áp lực tài chính trong ngành thép. Trước thềm đại hội cổ đông thường niên dự kiến tổ chức vào tháng 5, cổ đông lớn là Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Thép Việt đăng ký bán 7,5 triệu cổ phiếu POM nhằm xử lý nghĩa vụ tài chính và giảm áp lực nợ.

Theo báo cáo tài chính, tính đến cuối 2025, Pomina ghi nhận tổng nợ phải trả gần 9.500 tỉ đồng, trong khi tiền và tương đương tiền chỉ khoảng 29 tỉ đồng. Doanh nghiệp lỗ nhiều năm liên tiếp, riêng năm 2025 lỗ hơn 830 tỉ đồng, chủ yếu do chi phí tài chính và khấu hao lớn trong bối cảnh thị trường thép xây dựng suy giảm.

Không chỉ Pomina, ghi nhận trên thị trường chứng khoán đến tháng 2-2026 cho thấy có gần 20 doanh nghiệp niêm yết báo lỗ trước thuế trên 100 tỉ đồng trong năm 2025, trong đó có ba doanh nghiệp thép. Ngoài Pomina, Gang thép Cao Bằng lỗ khoảng 205 tỉ đồng, khiến vốn chủ sở hữu giảm xuống khoảng 72 tỉ đồng, trong khi nợ phải trả gần 1.640 tỉ đồng.

Đại Thiên Lộc (DTL) tiếp tục tái lỗ trong năm 2025, đánh dấu năm thứ ba trong bốn năm gần nhất doanh nghiệp này ghi nhận mức lỗ ròng trên 100 tỉ đồng. Doanh thu của DTL đã giảm mạnh từ gần 3.500 tỉ đồng năm 2018 xuống dưới 1.900 tỉ đồng hiện nay.

Theo một chuyên gia trong ngành, khó khăn hiện nay phản ánh điểm gãy của mô hình tăng trưởng ngành thép trong hơn một thập niên qua. Ngành thép tăng trưởng nhanh nhờ bất động sản và đầu tư hạ tầng, kéo theo làn sóng mở rộng công suất và sử dụng đòn bẩy tài chính lớn. Mô hình này giúp doanh nghiệp tăng nhanh thị phần khi thị trường thuận lợi, nhưng khi bất động sản đảo chiều, rủi ro tài chính lập tức bộc lộ.

Với đặc thù thâm dụng vốn, chu kỳ đầu tư dài và chi phí cố định lớn, doanh thu giảm trong khi lãi vay, khấu hao và chi phí vận hành vẫn cao khiến lợi nhuận suy giảm mạnh. Trong chu kỳ suy giảm, rủi ro lớn nhất của doanh nghiệp thép không nằm ở thị phần mà ở cấu trúc tài chính và áp lực nợ.

Sự phân hóa ngày càng rõ rệt

Trong khi một số doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, nhiều doanh nghiệp lớn trong ngành vẫn duy trì tăng trưởng và lợi nhuận, cho thấy bức tranh phân hóa ngày càng rõ nét.

Tổng công ty Thép Việt Nam cho biết năm 2025 doanh thu hợp nhất ước đạt khoảng 43.000 tỉ đồng, tăng hơn 17% và vượt kế hoạch; lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt khoảng 550 tỉ đồng, tăng hơn 50%. Nhiều đơn vị thành viên như Thép Miền Nam, Tôn Phương Nam hay Vinakyoei vẫn duy trì hiệu quả kinh doanh ổn định.

Tập đoàn Hòa Phát tiếp tục là điểm sáng của ngành khi ghi nhận lợi nhuận sau thuế năm 2025 hơn 15.500 tỉ đồng và đặt kế hoạch năm 2026 tăng trưởng lợi nhuận hơn 40%. Doanh nghiệp này đang đẩy mạnh sản xuất thép cuộn cán nóng (HRC) và các sản phẩm phục vụ công nghiệp chế tạo, phân khúc có giá trị gia tăng cao và còn dư địa thay thế nhập khẩu.

Các doanh nghiệp FDI như NS BlueScope Vietnam cũng tập trung vào thép mạ, thép chất lượng cao và sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật - môi trường để phục vụ xuất khẩu, qua đó duy trì biên lợi nhuận ổn định hơn.

Theo đại diện Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), sự phân hóa trong ngành hiện chủ yếu đến từ nội tại doanh nghiệp và các quyết định đầu tư trong quá khứ. Những doanh nghiệp có chuỗi sản xuất khép kín, quy mô lớn và kiểm soát chi phí tốt vẫn duy trì được lợi nhuận, trong khi các doanh nghiệp phụ thuộc vào một phân khúc sản phẩm và sử dụng đòn bẩy tài chính cao chịu áp lực lớn hơn nhiều.

Chi phí tăng, biên lợi nhuận bị bào mòn

Triển vọng năm 2026 của ngành thép được đánh giá có cải thiện nhờ đầu tư công và thị trường xây dựng phục hồi. Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng lợi nhuận trong giai đoạn tới sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng kiểm soát chi phí và quản trị chuỗi cung ứng, thay vì tăng trưởng sản lượng.

Theo VSA, giá nhiều nguyên liệu đầu vào như quặng sắt, than luyện cốc và thép phế có xu hướng tăng, trong khi chi phí vận tải biển tăng do căng thẳng địa chính trị. Riêng giá phôi thép từ đầu năm 2026 đến nay đã tăng khoảng 300.000 - 400.000 đồng mỗi tấn, tạo thêm áp lực chi phí cho doanh nghiệp.

Chủ tịch VSA Nghiêm Xuân Đa cho biết, ngành thép đang chịu tác động dây chuyền từ biến động giá năng lượng và logistics. Khi giá dầu tăng, chi phí sản xuất, vận tải và logistics đều tăng theo, trong khi thời gian vận chuyển kéo dài do gián đoạn chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, doanh nghiệp thép khó tăng giá bán tương ứng vì phải giữ thị trường và cạnh tranh khiến phần chi phí tăng thêm buộc phải tự hấp thụ, làm biên lợi nhuận bị thu hẹp.

Chi phí đầu vào ngành thép đang tăng cao. Ảnh: TL

Chi phí đầu vào ngành thép đang tăng cao. Ảnh: TL

Theo khảo sát của VCBS Research, quí 1-2026 giá thép xây dựng tăng khoảng 4-5%, trong khi tôn mạ, ống thép và thép HRC tăng khoảng 3%. Tuy nhiên, chi phí đầu vào tăng cao khiến biên lợi nhuận của doanh nghiệp thép không cải thiện đáng kể.

Do vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, ngành thép Việt Nam dễ chịu tác động từ biến động giá hàng hóa và vận tải biển. Vì vậy, rủi ro lớn của ngành trong giai đoạn tới không nằm ở giá bán mà ở chi phí đầu vào và khả năng bảo vệ biên lợi nhuận.

Xuất khẩu tiếp tục gặp khó

Một áp lực lớn khác của ngành thép Việt Nam đến từ các biện pháp phòng vệ thương mại gia tăng trên thế giới. Thép là ngành công nghiệp nền tảng nên thường được các quốc gia bảo vệ, khiến sản phẩm thép Việt Nam liên tục đối mặt với điều tra chống bán phá giá, áp thuế và hạn ngạch nhập khẩu.

Thép là mặt hàng bị điều tra phòng vệ thương mại nhiều trên thế giới. Nguồn: hoaphat.com

Thép là mặt hàng bị điều tra phòng vệ thương mại nhiều trên thế giới. Nguồn: hoaphat.com

Gần đây, sau khi thép cốt bê tông chịu thuế chống bán phá giá cao tại Mỹ, Mexico tiếp tục áp thuế tạm thời đối với thép HRC nhập từ Việt Nam. Trước đó, nhiều thị trường đã áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với thép mạ, thép cán nguội và thép xây dựng của Việt Nam.

Theo VSA, xuất khẩu thép năm ngoái giảm khoảng 40% do các biện pháp phòng vệ thương mại từ nhiều thị trường như Mỹ, Mexico, châu Âu và một số nước Đông Nam Á.

Theo ông Đa, việc EU triển khai cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), đồng thời cắt giảm hạn ngạch nhập khẩu thép, khiến xuất khẩu sang thị trường này ngày càng khó khăn hơn. Khi nhiều thị trường cùng tăng hàng rào bảo hộ, lượng thép dư thừa toàn cầu có xu hướng quay lại cạnh tranh tại các thị trường còn mở, khiến cạnh tranh về giá ngày càng gay gắt.

Trong bối cảnh đó, lợi thế không còn thuộc về doanh nghiệp mở rộng công suất nhanh nhất, mà thuộc về doanh nghiệp có khả năng kiểm soát rủi ro tài chính, chi phí và thị trường đầu ra. Ngành thép Việt Nam vì vậy đang bước vào một giai đoạn cạnh tranh mới, nơi sức bền tài chính và năng lực thích ứng quan trọng hơn tốc độ tăng trưởng.

Lê Hoàng

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/cuoc-dua-suc-ben-va-xanh-hoa-cua-nganh-thep/