Đà Nẵng: Tăng tốc xanh hóa xe buýt, hướng tới 100% năng lượng sạch
Đà Nẵng đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành chuyển đổi xe buýt đô thị sang điện, năng lượng xanh và đến năm 2050 đạt 100% xe buýt sử dụng năng lượng sạch, hướng tới giao thông ít phát thải và đô thị phát triển bền vững.
Đây không chỉ là bước chuyển về công nghệ phương tiện mà còn mở ra hướng tái cấu trúc giao thông công cộng theo mô hình phát triển ít phát thải, tiết kiệm năng lượng và bền vững.
Từ thay đổi phương tiện đến chuyển đổi mô hình giao thông
UBND TP Đà Nẵng vừa phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi xe buýt sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang xe buýt điện, năng lượng xanh giai đoạn 2026-2050. Kế hoạch cụ thể hóa lộ trình chuyển đổi năng lượng trong vận tải hành khách công cộng, đồng thời phù hợp với định hướng của Chính phủ về chuyển đổi năng lượng xanh và các chương trình phát triển đô thị bền vững của thành phố.

UBND TP Đà Nẵng vừa phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi xe buýt sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang xe buýt điện, năng lượng xanh giai đoạn 2026-2050.
Theo đó, lộ trình, giai đoạn 2026-2030 được xác định là thời kỳ tăng tốc. Ngay trong năm 2026, khoảng 40% xe buýt đô thị sẽ được chuyển sang sử dụng điện hoặc năng lượng xanh. Đến năm 2027, toàn bộ xe buýt hoạt động trong khu vực đô thị phải hoàn thành chuyển đổi.
Đáng chú ý, các tuyến xe buýt đô thị mở mới từ giai đoạn này cũng phải sử dụng phương tiện điện hoặc năng lượng xanh. Điều đó cho thấy Đà Nẵng không chỉ xử lý bài toán thay thế phương tiện cũ mà đang hướng tới thay đổi căn bản cấu trúc năng lượng của hệ thống giao thông công cộng.
Từ góc nhìn kinh tế môi trường, đây là bước chuyển quan trọng bởi giao thông đô thị là một trong những lĩnh vực tạo ra nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu lớn, đồng thời phát sinh khí thải, tiếng ồn và các chi phí môi trường mà xã hội phải gánh chịu.
Thực tế, khi xe buýt điện được mở rộng, những chi phí ngoại tác này có thể từng bước được cắt giảm. Phương tiện điện không phát thải trực tiếp tại ống xả, vận hành êm hơn và có khả năng góp phần cải thiện chất lượng không khí, giảm tiếng ồn trong các khu vực đô thị đông dân cư.
Xe buýt xanh và bài toán hiệu quả kinh tế
Thời điểm, Đà Nẵng đã có những tuyến xe buýt điện bước đầu tạo dấu ấn trong mạng lưới giao thông công cộng. Tuyến 12 Xuân Diệu - Sân bay - Phạm Hùng kết nối nhiều trục giao thông quan trọng, trong khi tuyến 06 Sân bay - Đại học Việt Hàn tạo hành lang liên kết từ sân bay, khu vực trung tâm, cầu Rồng, tuyến ven biển Võ Nguyên Giáp - Trường Sa đến các khu đô thị mới và Đại học Việt - Hàn.

Theo đó, đầu tư cho xe buýt điện có thể được xem là khoản đầu tư đồng thời cho giao thông, môi trường và chất lượng đô thị.
Thự tế, những tuyến này cho thấy xe buýt không chỉ phục vụ nhu cầu đi lại thường nhật mà còn có vai trò kết nối sân bay, trung tâm đô thị, khu dân cư, trường học, các khu đô thị mới và không gian du lịch.
Trong nền kinh tế xanh, hiệu quả của phương tiện công cộng không nên chỉ được tính bằng doanh thu vé mà cần được nhìn nhận trên tổng giá trị mà hệ thống tạo ra cho xã hội. Một chuyến xe buýt có thể thay thế nhiều phương tiện cá nhân, qua đó giảm tiêu thụ nhiên liệu, giảm ùn tắc, giảm nhu cầu mở rộng hạ tầng đường bộ và hạn chế phát sinh khí thải.
Theo đó, đầu tư cho xe buýt điện có thể được xem là khoản đầu tư đồng thời cho giao thông, môi trường và chất lượng đô thị. Khi mạng lưới đủ thuận tiện, phương tiện công cộng càng có khả năng thu hút người dân chuyển từ phương tiện cá nhân sang phương thức di chuyển ít phát thải hơn.
Đây chính là điểm giao giữa mục tiêu môi trường và hiệu quả kinh tế: giảm phát thải không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn có thể tạo ra lợi ích kinh tế dài hạn thông qua tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí xã hội do ô nhiễm và nâng cao hiệu quả sử dụng hạ tầng.
Huy động nguồn lực xã hội cho giao thông xanh
Tuy nhiên, chuyển đổi phương tiện chỉ là một phần của bài toán. Để xe buýt điện vận hành hiệu quả, thành phố phải đồng thời phát triển hệ thống trạm sạc, nguồn điện, bãi đỗ và các đầu mối kỹ thuật.
Qua đó, Đà Nẵng định hướng nghiên cứu bố trí trạm sạc nhanh tại điểm đầu, điểm cuối tuyến và các bãi đỗ xe công cộng. Trong quá trình quy hoạch các đầu mối giao thông, quỹ đất dành cho trạm sạc cũng được tính toán, đồng thời xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật để có thể sử dụng chung cho hệ thống xe buýt điện.

Từ những tuyến xe buýt điện đang hiện hữu, Đà Nẵng đang đặt nền móng cho một hệ thống giao thông công cộng mới.
Bên cạnh đó, Đà Nẵng cũng dự kiến hoàn thiện định mức, đơn giá đối với xe buýt điện; điều chỉnh thời gian thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ phù hợp với thời gian khấu hao phương tiện. Đây là giải pháp có ý nghĩa trực tiếp đối với doanh nghiệp, bởi xe buýt điện thường đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn và cần thời gian đủ dài để thu hồi vốn.
Có thể thấy, đây là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xanh, khi ngân sách công không thể một mình đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn cho quá trình chuyển đổi hàng loạt phương tiện.
Trong mô hình này, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua quy hoạch, cơ chế chính sách, trợ giá, hỗ trợ lãi suất và đầu tư hạ tầng thiết yếu; trong khi doanh nghiệp tham gia đầu tư phương tiện, công nghệ và tổ chức vận hành.
Một cơ chế đủ ổn định và có khả năng dự báo sẽ giúp doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư hơn. Đồng thời, cạnh tranh về chất lượng dịch vụ có thể tạo động lực nâng cao hiệu quả vận hành, qua đó giảm chi phí xã hội trên mỗi lượt hành khách.
Qua đó, trong giai đoạn 2026-2030, những tuyến này vẫn có thể đầu tư xe buýt diesel đạt tiêu chuẩn khí thải Euro 5. Khi hạ tầng được hoàn thiện, thành phố khuyến khích doanh nghiệp từng bước chuyển sang phương tiện điện, tiến tới loại bỏ xe buýt sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Giai đoạn 2030-2050 sẽ là bước mở rộng chuyển đổi đối với những phương tiện còn lại, hướng tới mục tiêu 100% xe buýt trên toàn địa bàn Đà Nẵng sử dụng điện hoặc năng lượng xanh vào năm 2050.
Theo đó, thành phố cũng định hướng phát triển các tuyến xe buýt điện kết nối với đường sắt đô thị, Sân bay quốc tế Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ, Chu Lai, các khu đô thị mới, Trung tâm hội chợ triển lãm quốc gia và các thiết chế văn hóa.
Đây là điều đặc biệt quan trọng đối với một đô thị đang mở rộng không gian phát triển. Khi các khu đô thị, trung tâm thương mại, trường học, khu công nghiệp và điểm du lịch ngày càng phân tán, việc phát triển giao thông công cộng đi trước sẽ góp phần hạn chế xu hướng gia tăng phương tiện cá nhân.
Ở góc độ kinh tế môi trường, đó cũng là cách giảm áp lực phải liên tục mở rộng đường sá để đáp ứng nhu cầu giao thông. Hạ tầng giao thông công cộng có năng lực vận chuyển lớn hơn trên cùng một không gian đường, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và hạ tầng đô thị.
Do đó, quá trình chuyển đổi cần đi cùng với việc tối ưu hóa mạng lưới tuyến, tăng tần suất ở các hành lang có nhu cầu cao, cải thiện điểm dừng, thông tin hành khách và kết nối với các phương thức vận tải khác.
Từ những tuyến xe buýt điện đang hiện hữu, Đà Nẵng đang đặt nền móng cho một hệ thống giao thông công cộng mới. Nếu được triển khai đồng bộ từ phương tiện, hạ tầng năng lượng, cơ chế tài chính đến tổ chức mạng lưới, quá trình xanh hóa xe buýt có thể tạo ra lợi ích kép: giảm chi phí môi trường và mở rộng dư địa phát triển kinh tế xanh.
Đây cũng là bước đi cần thiết để Đà Nẵng tiến gần hơn tới mục tiêu xây dựng một đô thị hiện đại, thông minh, ít phát thải và đáng sống, trong đó tăng trưởng kinh tế không tách rời trách nhiệm bảo vệ môi trường.
