Đặc sản vùng đất cát
Giữa vùng đất cát ở xã Ninh Phước, nghề nuôi dông đang mang lại nguồn thu ổn định cho nhiều hộ dân, nhất là ở thôn Hòa Thủy. Nhờ tận dụng điều kiện tự nhiên, cùng chi phí đầu tư thấp nhưng giá trị kinh tế cao, mô hình này ngày càng phát triển, góp phần tạo sinh kế bền vững trên vùng đất khô hạn. Để nâng cao giá trị của đặc sản địa phương, chính quyền địa phương đang xây dựng thương hiệu "Dông cát Hòa Thủy - Ninh Phước", hướng tới phát triển sản phẩm theo hướng bền vững, gắn với quảng bá hình ảnh địa phương.

Dông dễ nuôi vì thức ăn chủ yếu là các loại củ quả vụn.
Mô hình sinh kế đặc thù
Thôn Hòa Thủy được xem là một trong những "thủ phủ" nuôi dông của cả nước, cung cấp dông thịt và dông giống cho nhiều tỉnh, thành phố. Theo người dân địa phương, ban đầu mọi người chỉ đi săn bắt dông tự nhiên để làm thực phẩm trong gia đình hoặc bán nhỏ lẻ. Nhờ được coi là đặc sản, nhu cầu thị trường dông thịt ngày càng tăng cao nên từ những năm 2000, người dân bắt đầu đưa dông về nuôi thử nghiệm, sau đó từng bước phát triển thành nghề, hình thành vùng nuôi dông tập trung.
Ông Nguyễn Văn Phước, hộ nuôi dông nhiều năm ở thôn Hòa Thủy cho biết, dông là loài bò sát thích nghi tốt với khí hậu nắng nóng, khô hạn, ít dịch bệnh. Gia đình ông nuôi khoảng 2.000 con dông trên diện tích hơn 1 sào, chia thành 4 ô nuôi. Thức ăn của dông chủ yếu tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp sẵn có tại địa phương như rau muống, các loại củ quả vụn, lá cây... nên chi phí chăn nuôi khá thấp. Chuồng nuôi được xây dựng đơn giản, tường bao cao khoảng 0,8 - 1m, móng xây sâu để tránh dông đào thoát ra ngoài. Bên trong thả các cành cây khô để tạo bóng mát tự nhiên, phủ cát, làm các ụ đất để dông đào hang, kiếm ăn và sinh trưởng. Bên cạnh đó, dông cái chỉ sinh sản trên nền cát có độ kết dính thấp nên rất phù hợp với thổ nhưỡng của địa phương. Hằng năm, khoảng tháng 10, dông đào hang sâu dưới lớp cát để đẻ trứng. Mỗi con đẻ từ 5 đến 10 trứng, tùy trọng lượng cơ thể, sau khoảng 45 ngày trứng nở...

Khu vực nuôi dông của một hộ dân.
Gia đình ông Nguyễn Văn Tâm (thôn Hòa Thủy) hiện nuôi khoảng 10.000 con dông các loại, vừa cung cấp dông thương phẩm cho các nhà hàng, vừa bán con giống cho người dân trong và ngoài tỉnh. Hiện dông thịt có giá 600.000 - 800.000 đồng/kg, dông giống 500.000 - 600.000 đồng/kg. Mỗi tháng, gia đình ông xuất bán khoảng 10kg dông thương phẩm, chưa kể dông giống, mang lại nguồn thu nhập ổn định. Ông Tâm chia sẻ, nhờ khí hậu nắng nóng quanh năm và nền cát khô, dông vận động nhiều, thường xuyên đào hang nên thịt săn chắc, thơm, ngọt hơn so với dông nuôi ở những vùng có độ ẩm cao. Thịt dông có màu trắng như thịt gà, xương mềm, giòn, có thể chế biến thành nhiều món như gỏi, chả, nướng muối ớt… Vì vậy, dông cát Ninh Phước được thị trường TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Đồng Nai, Cần Thơ... ưa chuộng.
Sau nhiều năm nuôi, các hộ dân ở thôn Hòa Thủy hầu hết chủ động được nguồn giống, qua đó giảm đáng kể chi phí sản xuất. Dông nuôi khoảng 1 năm có thể xuất bán thương phẩm, chủ yếu là dông đực, còn dông cái được giữ lại để sinh sản; những con non đạt chất lượng được tuyển chọn làm giống. Nhiều hộ gia đình còn kết hợp nuôi thỏ rừng trong cùng khu vực, tận dụng chuồng trại để tăng hiệu quả kinh tế nhờ giá bán tương đương dông thịt.
Xây dựng thương hiệu "dông cát Hòa Thủy - Ninh Phước"
Hiện đầu ra của dông cát thương phẩm khá ổn định, chủ yếu được tiêu thụ thông qua các nhà hàng, quán đặc sản và thương lái thu mua. Tuy nhiên, các hộ nuôi mong muốn địa phương tiếp tục hỗ trợ mở rộng thị trường, xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ bền vững để bảo đảm đầu ra ổn định, tránh nguy cơ ùn ứ sản phẩm khi quy mô chăn nuôi tiếp tục phát triển.

Người dân thôn Hòa Thủy có thu nhập ổn định từ nghề nuôi dông.
Ông Đỗ Thanh Nhựt - Trưởng phòng Kinh tế xã Ninh Phước cho biết, nghề nuôi dông cát là mô hình sinh kế đặc thù, gắn liền với điều kiện tự nhiên và sự sáng tạo của người dân địa phương. Hiện địa phương có 67 hộ nuôi dông, mỗi năm cung cấp hơn 3 tấn dông thương phẩm cho thị trường. Bình quân mỗi hộ có thu nhập khoảng 50 triệu đồng/năm từ nghề nuôi dông, góp phần chuyển đổi cơ cấu sản xuất và tận dụng hiệu quả quỹ đất cát để phát triển kinh tế bền vững.
Để phát triển nghề nuôi dông cát theo hướng bền vững, địa phương đã định hướng và tập trung thực hiện các giải pháp trọng tâm như thành lập Tổ hợp tác nuôi dông cát nhằm thống nhất quy trình kỹ thuật, chia sẻ nguồn giống chất lượng. Đồng thời, từng bước xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ với các nhà hàng, khách sạn tại Nha Trang, Cam Ranh và một số địa phương khác, giúp tạo đầu ra ổn định cho người dân, giảm sự phụ thuộc vào thương lái trung gian.

Nghề nuôi dông phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng của xã Ninh Phước.
Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục chuẩn hóa quy trình chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, kiểm soát nguồn thức ăn, vệ sinh chuồng trại và khuyến khích người dân chủ động trồng các loại rau màu chịu hạn làm thức ăn cho dông nhằm giảm chi phí sản xuất. Đồng thời, địa phương sẽ quy hoạch vùng nuôi tập trung trên các khu đất cát hoang hóa, kém hiệu quả, tránh việc xây dựng tình trạng phát triển tự phát, làm ảnh hưởng đến cảnh quan hoặc lấn chiếm đất quy hoạch khác. “Đặc biệt, xã Ninh Phước đang xây dựng thương hiệu "Dông cát Hòa Thủy - Ninh Phước", nhằm nâng cao giá trị, uy tín của sản phẩm trên thị trường; đa dạng hóa sản phẩm theo hướng chế biến sâu, chế biến sẵn hoặc các sản phẩm giá trị gia tăng khác để dễ dàng tiếp cận hệ thống siêu thị, cửa hàng đặc sản và vận chuyển đi xa. Địa phương cũng định hướng kết hợp phát triển du lịch trải nghiệm gắn với tham quan mô hình nuôi dông và thưởng thức đặc sản, qua đó mở rộng đầu ra, nâng cao thu nhập cho người dân”, ông Nhựt cho hay.
Nguồn Khánh Hòa: http://www.baokhanhhoa.vn/kinh-te/202607/dac-san-vung-dat-cat-80a78f1/











