Đại biểu đề nghị hỗ trợ sinh kế, giữ lối tiếp cận biển cho người dân

Đại biểu Quốc hội đề nghị Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) làm rõ trách nhiệm hỗ trợ sinh kế, giữ lối tiếp cận biển cho người dân ven biển.

Chiều 6/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). 

Hỗ trợ trước khi gián đoạn sinh kế

Đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (Đại biểu Quốc hội TP. Cần Thơ) quan tâm đến chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cư ven biển trong phát triển các hoạt động kinh tế sử dụng không gian biển. Theo đại biểu, Điều 47 dự thảo Luật đã nêu nội dung hỗ trợ chuyển đổi sinh kế nhưng chưa xác định rõ trách nhiệm lập phương án, nguồn kinh phí và thời điểm triển khai hỗ trợ đối với cộng đồng bị ảnh hưởng trực tiếp.

Đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (Đại biểu Quốc hội TP. Cần Thơ)

Đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (Đại biểu Quốc hội TP. Cần Thơ)

Đại biểu lưu ý, trong quá trình sử dụng không gian biển, cần tính đến những người dân có hoạt động mưu sinh hợp pháp nhưng không thuộc đối tượng có quyền sử dụng khu vực biển bị thu hồi. Nếu chỉ xem xét hỗ trợ khi thu hồi khu vực biển thì chưa bao quát được nhóm người bị giảm thu nhập hoặc phải chuyển đổi nghề do tác động của dự án.

Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung sau khoản 3 Điều 47 quy định: Đối với cộng đồng dân cư ven biển có sinh kế hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án sử dụng không gian biển, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức xác định đối tượng, mức độ ảnh hưởng và phê duyệt phương án hỗ trợ. Phương án này phải được tham vấn cộng đồng, công khai về đối tượng, nội dung, kinh phí, tiến độ và trách nhiệm thực hiện. Các biện pháp hỗ trợ cần thiết phải được triển khai trước khi hoạt động của dự án làm gián đoạn sinh kế của người dân.

Đại biểu cũng đề nghị giao Chính phủ quy định rõ trách nhiệm đóng góp kinh phí của chủ dự án tương ứng với tác động do dự án gây ra, phần hỗ trợ của Nhà nước và nguyên tắc không chi trả trùng cho cùng một đối tượng. Đồng thời, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế phải hướng đến việc làm và thu nhập thực tế. Người dân cần biết sau khi thay đổi hoạt động sản xuất, họ có thể làm gì, được hỗ trợ như thế nào và cơ quan nào chịu trách nhiệm theo dõi.

Giữ lối tiếp cận biển công cộng

Đại biểu Lê Hữu Trí (Đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa) đề nghị làm rõ cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận biển của cộng đồng. Theo đại biểu, bên cạnh các quy định tại Điều 9, 10, 23 và 52 dự thảo Luật, cần chú trọng cơ chế thực thi trên thực tế. Nếu không kiểm soát chặt chẽ từ khâu quy hoạch, giao khu vực biển đến phê duyệt dự án thì khi công trình đã hoàn thành, việc khôi phục lối tiếp cận biển cho người dân sẽ rất khó khăn.

Đại biểu Lê Hữu Trí (Đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa)

Đại biểu Lê Hữu Trí (Đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa)

Tại Điều 9, dự thảo Luật quy định Nhà nước bảo đảm quyền tiếp cận hợp pháp của người dân đối với biển, bãi biển công cộng, lối tiếp cận biển công cộng và không gian sinh hoạt cộng đồng. Đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc các dự án ven biển, lấn biển, xây dựng công trình trên biển phải xác định rõ lối tiếp cận biển công cộng, bãi tắm công cộng và không gian sinh hoạt truyền thống của cộng đồng.

Đại biểu nêu rõ, không được biến quyền tiếp cận hợp pháp của người dân thành quyền phụ thuộc vào sự cho phép của chủ đầu tư. Cùng với đó, cần quy định cơ chế công khai quy hoạch, tham vấn cộng đồng thực chất và xử lý nghiêm hành vi chiếm dụng không gian biển công cộng.

Về cơ chế điều phối và trách nhiệm quản lý không gian biển, các đại biểu đồng tình với quy định tại Điều 6 và Điều 7 về việc giao Chính phủ thống nhất quản lý, đồng thời thiết lập cơ chế điều phối, phối hợp liên ngành.

Tuy nhiên, đại biểu Lê Hữu Trí cho rằng nếu chỉ quy định phối hợp mà không xác định rõ trách nhiệm quyết định, trách nhiệm giải trình và thời hạn xử lý thì nguy cơ chồng chéo vẫn còn, thậm chí có thể phát sinh thêm tầng nấc hành chính.

Đại biểu dẫn Điều 22 về phân định trách nhiệm quản lý của cấp tỉnh, cấp xã, trong đó vùng biển ngoài ranh giới quản lý hành chính của cấp tỉnh do Trung ương quản lý, trong khi Điều 6 đặt ra trách nhiệm quản lý cho nhiều cấp, nhiều ngành.

Do vậy, cần quy định rõ cơ quan đầu mối, thẩm quyền xử lý cuối cùng đối với các vấn đề liên ngành, liên vùng; phân định cụ thể trách nhiệm giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã. Việc phân cấp cũng phải đi đôi với bảo đảm nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và cơ chế kiểm tra, giám sát.

Báo cáo thẩm tra số 878 của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường ngày 2/10/2026 cũng đề nghị làm rõ cơ chế tại Điều 7, bảo đảm mỗi việc có cơ quan chịu trách nhiệm chính, không làm phát sinh thêm tầng nấc quản lý và thủ tục hành chính không cần thiết.

Chồng lấn không đồng nghĩa triệt tiêu

Góp ý Điều 17 về nghiên cứu khoa học của tổ chức, cá nhân nước ngoài trong vùng biển Việt Nam, đại biểu Nguyễn Thanh Ngân (Đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa) cho rằng điểm b khoản 4 về việc từ chối cấp phép khi khu vực nghiên cứu có sự chồng lấn với các hoạt động khai thác, sử dụng biển hợp pháp khác chưa thực sự linh hoạt, chưa phù hợp với nguyên tắc quản lý không gian biển đa mục đích.

Đại biểu Nguyễn Thanh Ngân (Đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa)

Đại biểu Nguyễn Thanh Ngân (Đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa)

“Việc chồng lấn về tọa độ địa lý không đồng nghĩa với việc hai hoạt động sẽ triệt tiêu lẫn nhau”, đại biểu nhấn mạnh.

Theo đó, thay vì từ chối cấp phép dựa trên ranh giới không gian, đại biểu đề nghị sửa theo hướng chỉ từ chối khi hoạt động nghiên cứu khoa học thực sự gây mất an toàn, làm gián đoạn nghiêm trọng hoạt động thương mại hợp pháp và không thể khắc phục bằng các biện pháp giảm thiểu.

Khi xảy ra chồng lấn, cơ quan quản lý nên yêu cầu hoặc tạo điều kiện để các bên đàm phán, điều chỉnh nhằm cùng tồn tại, thông qua những giải pháp như điều chỉnh thời gian, không gian vi mô hoặc thay đổi phương thức thực hiện.

Đại biểu cũng đề nghị rà soát điểm c khoản 3 Điều 17 để bảo đảm thống nhất với Điều 13 và các quy định khác trong dự thảo Luật. Quy định này hiện yêu cầu hoạt động nghiên cứu khoa học không được gây ô nhiễm môi trường biển, hủy hoại hệ sinh thái biển nhưng chưa đề cập đến hành vi gây suy thoái môi trường biển.

Theo đại biểu, suy thoái môi trường có thể xảy ra trước khi hệ sinh thái bị hủy hoại, như suy giảm chất lượng nước biển, biến đổi đặc tính trầm tích hoặc suy giảm chất lượng môi trường sống của các loài sinh vật. Đây cũng là những tác động tiêu cực cần được phòng ngừa ngay từ khâu xem xét cấp phép nghiên cứu khoa học.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung cụm từ “suy thoái môi trường biển”, đồng thời cân nhắc quy định rõ yêu cầu không làm suy giảm nghiêm trọng chức năng, cấu trúc hệ sinh thái biển, bảo đảm bao quát đầy đủ các mức độ tác động và thống nhất với cách tiếp cận tại Điều 13. Khoản 4 Điều 13 dự thảo Luật đã nghiêm cấm hành vi gây ô nhiễm, làm suy thoái, cạn kiệt, hủy hoại môi trường biển, hải đảo; làm suy giảm nghiêm trọng chức năng, cấu trúc hoặc hủy hoại hệ sinh thái biển.

Văn Hoàng

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/dai-bieu-de-nghi-ho-tro-sinh-ke-giu-loi-tiep-can-bien-cho-nguoi-dan-480163.html