Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga: Động lực quan trọng biến chủ trương thành kết quả thực tiễn

Vừa qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện 5 Nghị quyết, 1 Chỉ thị của Bộ Chính trị. Tại Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu chỉ đạo.

Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Vừa qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện 5 Nghị quyết, 1 Chỉ thị của Bộ Chính trị. Tại Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu chỉ đạo.

Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho biết, bài phát biểu có ý nghĩa như một định hướng hành động rất rõ cho giai đoạn triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Điểm xuyên suốt là chuyển trọng tâm từ học tập, quán triệt sang tổ chức thực hiện; từ ban hành văn bản sang giải quyết vấn đề; từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả; từ đánh giá nội bộ sang kiểm chứng bằng sản phẩm, dữ liệu, chuyển biến trong đời sống và sự hài lòng của nhân dân.

Th chế đi trưc, m đưng cho phát trin

Năm nghị quyết và một chỉ thị được quán triệt tại Hội nghị bao quát những trụ cột có quan hệ hữu cơ: công tác tư tưởng; học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; xây dựng đội ngũ cán bộ; phát triển vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia; phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Bài phát biểu đã kết nối các văn kiện thành một chỉnh thể thống nhất: xây dựng nền tảng chính trị, tinh thần, đạo đức và đội ngũ cán bộ để khơi thông, tổ chức và phát huy các nguồn lực phát triển.

Đặt vấn đề về nội dung thể chế, bà Nguyễn Thị Việt Nga khẳng định, điểm đáng lưu ý trước hết là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không đặt vấn đề hoàn thiện thể chế như một nhiệm vụ riêng lẻ, thuần túy về xây dựng pháp luật, mà đặt trong một chỉnh thể gồm phân định thẩm quyền, bảo đảm nguồn lực, quản trị rủi ro và trách nhiệm thực thi. Đây là bước phát triển rất rõ về tư duy: thể chế không chỉ để quản lý mà phải thực sự mở đường cho phát triển; không chỉ đúng về nguyên tắc mà còn phải tạo được khả năng hành động trong thực tiễn.

Thông điệp “thể chế phải đi trước một bước” vì thế có nội hàm rất cụ thể. Một là, phải chủ động sửa những quy định chồng chéo, mâu thuẫn và lấp đầy khoảng trống pháp lý đang cản trở đổi mới, liên kết vùng, phát triển du lịch, thu hút nhân tài và phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài. Hai là, vấn đề đã chín, đã rõ, được thực tiễn kiểm nghiệm thì phải sớm thể chế hóa; việc vượt thẩm quyền phải báo cáo kèm phương án xử lý, không chỉ dừng ở việc nêu khó khăn. Ba là, thời gian được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển không thể tái tạo; chậm thể chế hóa, chậm quyết định cũng chính là làm tăng chi phí xã hội và đánh mất cơ hội.

Dẫn chứng cho thông điệp được nêu ra, vị Đại biểu Quốc hội đề cập đến yêu cầu “không giao việc trước rồi mới đi tìm điều kiện thực hiện” trong bài phát biểu. Theo bà, thực tế, có tình trạng phân cấp về nhiệm vụ nhưng chưa phân bổ tương xứng về nhân lực, tài chính, dữ liệu, công nghệ và quyền quyết định; trách nhiệm đã giao xuống nhưng thủ tục xin ý kiến vẫn tập trung ở trên. Cách làm đó dễ dẫn tới phân cấp hình thức, làm mờ trách nhiệm và gây ách tắc. Chỉ đạo lần này xác lập một nguyên tắc đầy đủ hơn: giao quyền phải gắn với điều kiện thực thi, kiểm soát quyền lực và đánh giá bằng kết quả.

Một điểm mới nữa về vấn đề thể chế trong bài phát biểu được bà Việt Nga chỉ ra, đó là cách tiếp cận đối với những vấn đề mới, khó, chưa có tiền lệ. Theo bà, không vì chưa có quy định mà trì hoãn, nhưng cũng không thể đổi mới bằng mọi giá. Cần thí điểm có kiểm soát, xác định rõ mục tiêu, phạm vi, thời hạn, nguồn lực, giới hạn rủi ro, cơ chế giám sát và trách nhiệm; sau đó đánh giá, hoàn thiện, nhân rộng và luật hóa. Như vậy, hoàn thiện thể chế ở đây vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, vừa kiến tạo không gian cho đổi mới sáng tạo; vừa bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, vừa không hợp thức hóa sự tùy tiện hoặc miễn trừ trách nhiệm.

Hoàn thiện thể chế ở đây vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, vừa kiến tạo không gian cho đổi mới sáng tạo; vừa bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, vừa không hợp thức hóa sự tùy tiện hoặc miễn trừ trách nhiệm.

Bà Nguyễn Thị Việt Nga

“Cán bộ là nhân tố quyết định”

Cùng với hoàn thiện thể chế, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định”. Và yêu cầu cần “tạo chuyển biến thực chất về công tác cán bộ, tinh thần tiên phong, trách nhiệm nêu gương và văn hóa thực thi; coi đây là khâu quyết định đưa nghị quyết, chỉ thị vào cuộc sống”.

Bà Việt Nga cho rằng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ thẳng vào khâu có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực của mọi chủ trương: đó là con người thực thi. Nghị quyết đúng, thể chế tương đối đầy đủ, nguồn lực được bố trí nhưng cán bộ cầm chừng, né tránh, đùn đẩy thì công việc vẫn trì trệ. Vì vậy, công tác cán bộ phải được đổi mới theo hướng lấy năng lực giải quyết công việc và kết quả phục vụ Nhân dân làm căn cứ chủ yếu, thay vì thiên về hồ sơ, quy trình hoặc một quá trình “an toàn” nhưng không tạo ra chuyển biến.

Vị Đại biểu Quốc hội ấn tượng với yêu cầu “chọn người theo việc, giao việc để thử thách, lấy kết quả để đánh giá, sử dụng, sàng lọc”. Cách tiếp cận này đòi hỏi trước hết mỗi cấp ủy, cơ quan, địa phương phải xác định đúng việc khó, điểm nghẽn cần xử lý; sau đó giao cho người có đủ bản lĩnh, năng lực, thẩm quyền và nguồn lực. Đánh giá cán bộ phải gắn với vị trí việc làm, sản phẩm, tiến độ, hiệu quả, khả năng tháo gỡ vướng mắc, uy tín và tín nhiệm của nhân dân. Người dám nghĩ, dám làm, làm đúng vì lợi ích chung và tạo ra sản phẩm thực chất phải được ghi nhận, bảo vệ, trọng dụng; người né tránh, đùn đẩy, làm việc cầm chừng phải được sàng lọc, thay thế.

Ở khía cạnh bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm không đồng nghĩa với hạ thấp kỷ luật hay miễn trách nhiệm. Bài phát biểu chỉ ra, điều quan trọng là phải phân biệt minh bạch giữa rủi ro khách quan, sai sót không vụ lợi trong quá trình thực hiện công việc đúng chủ trương với hành vi cố ý vi phạm, vụ lợi, lợi ích nhóm hoặc tùy tiện. Cơ chế bảo vệ cũng phải bao quát cả chuỗi tham mưu, thẩm định, quyết định và tổ chức thực hiện; nếu chỉ bảo vệ người ra quyết định mà không bảo vệ người tham mưu đúng đắn thì vẫn khó khơi dậy tinh thần đổi mới.

Nếu thực hiện nghiêm những yêu cầu này, công tác cán bộ sẽ tạo được hai chuyển biến đồng thời: khuyến khích người có năng lực, trách nhiệm dấn thân vì việc chung và hình thành cơ chế sàng lọc thực chất đối với sự trì trệ, né tránh. Đó chính là điều kiện để chuyển từ “đúng quy trình” sang “đúng việc, đúng người và có kết quả.

Bà Nguyễn Thị Việt Nga

Bài phát biểu cũng đặt trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu ở vị trí rất rõ. Nêu gương không chỉ là phẩm chất, mà là một phương thức lãnh đạo và phải thể hiện bằng hành động, quyết định, kết quả. Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo việc lớn, việc khó; đi cơ sở, đối thoại với người dân, doanh nghiệp và cán bộ thực thi; phân định vướng mắc do thể chế hay do con người; quyết định những việc thuộc thẩm quyền và chịu trách nhiệm đến cùng.

Bà Việt Nga khẳng định, nếu thực hiện nghiêm những yêu cầu này, công tác cán bộ sẽ tạo được hai chuyển biến đồng thời: khuyến khích người có năng lực, trách nhiệm dấn thân vì việc chung và hình thành cơ chế sàng lọc thực chất đối với sự trì trệ, né tránh. Đó chính là điều kiện để chuyển từ “đúng quy trình” sang “đúng việc, đúng người và có kết quả”.

Xây dựng văn hóa thực thi, lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo

Một điểm mới quan trọng được Tổng Bí thư nêu ra là việc xây dựng "văn hóa thực thi", biến phương pháp Hồ Chí Minh thành năng lực công vụ hằng ngày của cán bộ, và khẳng định "Nhân dân phải được tham gia, thụ hưởng và là người đánh giá cuối cùng". Bàn về nội dung này, Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga khẳng định, “văn hóa thực thi” là một khái niệm rất cô đọng nhưng hàm chứa yêu cầu đổi mới sâu sắc đối với nền công vụ. Đó không đơn thuần là chấp hành mệnh lệnh hành chính, mà là một hệ giá trị gồm trách nhiệm, chủ động, liêm chính, khoa học, dám quyết định, nói đi đôi với làm và lấy hiệu quả phục vụ nhân dân làm thước đo. Khi phương pháp Hồ Chí Minh - nắm chắc và nghiên cứu kỹ thực tiễn, chọn đúng việc trọng tâm, làm việc dân chủ, khoa học, dựa vào dân, lắng nghe dân và chịu sự giám sát của dân - trở thành năng lực công vụ hằng ngày, việc học tập và làm theo Bác mới chuyển từ nhận thức sang thực hành thực chất.

Bài phát biểu khẳng định “Nhân dân phải được tham gia, thụ hưởng và là người đánh giá cuối cùng” cũng làm rõ hơn bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Một chính sách không thể được coi là thành công chỉ vì đã ban hành đúng tiến độ hoặc có nhiều báo cáo đẹp. Chính sách chỉ thực sự có giá trị khi người dân tiếp cận được, thụ hưởng công bằng, thấy thủ tục thuận lợi hơn, quyền lợi được bảo đảm tốt hơn và những vấn đề chính đáng được giải quyết. Sự hài lòng của người dân vì thế phải được xem là dữ liệu quản trị và kênh kiểm chứng chính sách, chứ không phải một chỉ số mang tính trang trí.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự hội nghị. (Ảnh: DUY LINH-TRẦN HẢI)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự hội nghị. (Ảnh: DUY LINH-TRẦN HẢI)

Đối với Quốc hội, bà Việt Nga cho rằng, yêu cầu này đặt ra việc tiếp tục chuyển mạnh từ giám sát chủ yếu qua báo cáo sang giám sát dựa trên bằng chứng và kết quả cuối cùng. Trước hết, ngay từ khi lựa chọn chuyên đề giám sát cần ưu tiên những vấn đề tác động trực tiếp, rộng lớn đến đời sống, những lĩnh vực sử dụng nguồn lực lớn hoặc có nhiều kiến nghị kéo dài. Đề cương giám sát phải xác định được bộ chỉ số đầu ra và tác động: người dân được hưởng lợi gì, mức độ tiếp cận ra sao, chênh lệch giữa các nhóm dân cư và địa bàn thế nào, khiếu nại có giảm không, thời gian và chi phí tuân thủ thay đổi thế nào.

Thứ hai, cần đa dạng hóa nguồn chứng cứ, không phụ thuộc vào báo cáo của cơ quan chịu giám sát. Phải kết hợp khảo sát độc lập, điều tra xã hội học, tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, đối thoại trực tiếp với đối tượng thụ hưởng, phân tích đơn thư, dữ liệu hành chính, dữ liệu của Mặt trận Tổ quốc, báo chí và phản ánh trên môi trường số. Kết quả khảo sát phải có mẫu đại diện, phân tách theo giới, độ tuổi, nhóm yếu thế, vùng miền và loại hình dịch vụ để tránh việc một con số bình quân che lấp những nhóm đang bị bỏ lại phía sau.

Thứ ba, tăng giám sát tại cơ sở và giám sát việc thực hiện kiến nghị sau giám sát. Với lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, lao động, an sinh xã hội, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật…, Ủy ban Văn hóa và Xã hội có thể lựa chọn một số địa bàn, chính sách làm mẫu theo dõi, xây dựng “đường cơ sở” trước khi thực hiện và đo lại sau một khoảng thời gian. Mỗi kiến nghị cần rõ cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn, sản phẩm và dữ liệu xác nhận; nội dung nào chậm thực hiện phải giải trình công khai, cần thiết thì tổ chức phiên giải trình hoặc chất vấn.

Quang cảnh Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị. (Ảnh: DUY LINH-TRẦN HẢI)

Quang cảnh Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị. (Ảnh: DUY LINH-TRẦN HẢI)

Cuối cùng, phải thiết lập vòng phản hồi chính sách khép kín: giám sát không chỉ để chỉ ra vi phạm mà còn để phát hiện sớm bất cập của chính sách, kiến nghị sửa luật, điều chỉnh nguồn lực hoặc thay đổi cách tổ chức thực hiện. Khi phản ánh của người dân được thu nhận, xử lý và phản hồi minh bạch, sự hài lòng mới được đo bằng trải nghiệm thật; giám sát mới góp phần củng cố niềm tin và nâng cao chất lượng quản trị.

Trong bối cảnh đất nước đứng trước thời cơ lớn nhưng cũng chịu áp lực rất lớn về tốc độ, chất lượng và năng lực cạnh tranh, thông điệp “thời gian là một nguồn lực phát triển không thể tái tạo” có sức cảnh tỉnh mạnh mẽ. Theo bà Việt Nga, không còn dư địa cho sự trì trệ, né tránh hoặc phối hợp hình thức. Việc đã rõ phải làm ngay; việc thuộc thẩm quyền phải quyết định; việc vượt thẩm quyền phải báo cáo kèm phương án. Nhưng hành động nhanh phải đi cùng kỷ luật, quản trị rủi ro, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm đến cùng.

Vị Đại biểu Quốc hội cũng đánh giá cao việc nhân dân được đặt ở vị trí trung tâm trong toàn bộ chu trình chính sách: tham gia, thụ hưởng và đánh giá. Đây là thước đo rất cụ thể đối với năng lực lãnh đạo, quản trị và phẩm chất cán bộ. Cuối cùng, giá trị của một nghị quyết không nằm ở số hội nghị được tổ chức hay số văn bản được ban hành, mà ở số việc khó được giải quyết, số điểm nghẽn được tháo gỡ, cơ hội phát triển được mở rộng và niềm tin của nhân dân được củng cố.

Có thể nói, bài phát biểu vừa xác lập yêu cầu về tư duy, vừa chỉ rõ phương pháp, công cụ và trách nhiệm. Nếu được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, đây sẽ là động lực quan trọng để biến quyết tâm chính trị thành năng lực hành động của toàn hệ thống; để mỗi văn kiện trở thành những việc cụ thể, có người chịu trách nhiệm và có kết quả kiểm chứng; qua đó góp phần làm cho đất nước mạnh hơn, nhân dân sống tốt hơn, niềm tin vững chắc hơn.

NHA TRANG

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/dai-bieu-quoc-hoi-nguyen-thi-viet-nga-dong-luc-quan-trong-bien-chu-truong-thanh-ket-qua-thuc-tien-post986612.html