Đại biểu Trần Lan Phương: Mở rộng khuyến khích doanh nghiệp lữ hành liên kết cộng đồng dân cư cung ứng sản phẩm du lịch
Thảo luận tại Tổ ngày 7/11, đại biểu Trần Lan Phương, Phó Chủ tịch Thường trực Hội LHPN Việt Nam, Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng, đề nghị tiếp tục hoàn thiện các điều kiện ưu đãi đầu tư du lịch, tăng cường liên kết với cộng đồng địa phương và kiểm soát phù hợp các mô hình kinh doanh mới.

Đại biểu Trần Lan Phương, Phó Chủ tịch Thường trực Hội LHPN Việt Nam, Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng, phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển
Sáng 7/11, góp ý về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam, đại biểu Trần Lan Phương, Phó Chủ tịch Thường trực Hội LHPN Việt Nam, Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng, bày tỏ cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị, tạo động lực để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Tuy nhiên, bà Trần Lan Phương đề nghị tiếp tục hoàn thiện các điều kiện hưởng ưu đãi, bảo đảm chính sách hướng tới những dự án du lịch có chất lượng và đóng góp thực chất cho nền kinh tế.
Hoàn thiện điều kiện ưu đãi đối với dự án du lịch
Theo dự thảo, các khoản 1, 2 và 3, Điều 5 phân loại dự án được hưởng ưu đãi theo quy mô vốn đầu tư từ 3.000 tỷ đồng, 10.000 tỷ đồng và 30.000 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư vào các hạng mục du lịch tối thiểu bằng 50% tổng vốn đầu tư.
Đại biểu đồng tình với việc ưu tiên các dự án lớn có khả năng tạo động lực tăng trưởng. Tuy nhiên, bà lưu ý quy mô vốn đầu tư lớn chưa đồng nghĩa với chất lượng sản phẩm du lịch và hiệu quả đóng góp cho nền kinh tế.
Bà dẫn ví dụ, một dự án có tổng vốn đầu tư 30.000 tỷ đồng nhưng chỉ dành 15.000 tỷ đồng cho các hạng mục du lịch thì cần đánh giá thực chất hiệu quả của phần vốn này thông qua khả năng thu hút khách, tạo việc làm, doanh thu và đóng góp cho địa phương.
Dự thảo đã loại trừ vốn đầu tư vào các hoạt động kinh doanh bất động sản, casino, trò chơi điện tử có thưởng và đặt cược khi xác định vốn đầu tư du lịch được hưởng ưu đãi.
Tuy nhiên, với các dự án đa chức năng, đại biểu đề nghị có cơ chế hạch toán, kiểm chứng rõ ràng để tránh ưu đãi gián tiếp cho những hoạt động không thuộc phạm vi chính sách.
Nữ đại biểu cũng lưu ý điều kiện giải ngân tại khoản 5, Điều 5. Quy định này yêu cầu dự án phải giải ngân tối thiểu 30% tổng vốn đầu tư đăng ký trong thời hạn 3 năm.
Theo bà Trần Lan Phương, nhà đầu tư có thể đáp ứng tỷ lệ giải ngân chung nhưng các hạng mục trực tiếp tạo ra sản phẩm du lịch vẫn chậm triển khai.
Vì vậy, bà đề nghị chỉnh lý khoản 5, Điều 5 theo hướng gắn điều kiện giải ngân với tiến độ hoàn thành và đưa vào hoạt động các hạng mục du lịch được hưởng ưu đãi.
Đồng thời, cần làm rõ cơ chế kiểm tra, đánh giá định kỳ và xử lý khi nhà đầu tư không duy trì các cam kết về lao động thường xuyên, hoạt động kinh doanh du lịch và bảo vệ môi trường.
Về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, đại biểu đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa thời hạn thí điểm chính sách 5 năm và thời hạn hưởng ưu đãi của từng dự án.
Theo dự thảo, chính sách ưu đãi thuế gồm miễn thuế tối đa 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong không quá 9 năm tiếp theo, tính từ năm đầu tiên dự án có doanh thu đến hết thời hạn thí điểm.
Đại biểu Trần Lan Phương đề nghị quy định rõ thời điểm bắt đầu tính ưu đãi, bảo đảm thống nhất với pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và tránh cách hiểu, áp dụng khác nhau.
Tăng cường liên kết trong phát triển du lịch cộng đồng
Đối với chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tại khoản 6 Điều 6, Điều 7 và Điều 12, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo quan tâm đến du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, sinh thái và làng nghề truyền thống.
Bà Trần Lan Phương cho rằng, việc phụ thuộc vào khả năng cân đối ngân sách địa phương có thể khiến các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số khó tiếp cận chính sách, dù có tiềm năng du lịch đặc sắc.
Khoản 3, Điều 7 đã có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp ký hợp đồng tiêu thụ dài hạn sản phẩm OCOP. Đại biểu đánh giá đây là hướng đi đúng, nhưng đề nghị mở rộng sang khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú với hợp tác xã, hộ kinh doanh và cộng đồng dân cư trong cung ứng sản phẩm, dịch vụ du lịch, sử dụng lao động tại chỗ và đào tạo theo nhu cầu thị trường.
Đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 7 cơ chế hỗ trợ liên kết dựa trên hợp đồng và kết quả thực hiện; tại khoản 6, Điều 6 và khoản 3, Điều 12, ưu tiên hỗ trợ đồng bộ từ đào tạo kỹ năng, nâng cao chất lượng sản phẩm, chuyển đổi số đến kết nối thị trường.
Việc phân bổ nguồn lực cần tính đến tiềm năng du lịch và khả năng cân đối ngân sách của từng địa phương, ưu tiên tạo điều kiện cho các địa bàn khó khăn tiếp cận chính sách. Hiệu quả hỗ trợ nên được đánh giá qua số hộ tham gia, việc làm, thu nhập và khả năng duy trì mô hình.

Các đại biểu tại tổ thảo luận số 3 (TP Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Tĩnh)
Quy định rõ điều kiện thử nghiệm các hoạt động kinh doanh du lịch mới
Đối với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát một số mô hình, hoạt động kinh doanh du lịch mới tại Điều 9, đại biểu đồng tình với chủ trương cho phép phát triển kinh tế đêm, hoạt động 24/7, áp dụng thủ tục hành chính rút gọn và cấp phép một lần.
Tuy nhiên, nữ đại biểu lưu ý việc tạo cơ chế thông thoáng cho hoạt động kinh doanh không đồng nghĩa với nới lỏng các yêu cầu về an ninh, an toàn, phòng cháy chữa cháy và bảo vệ môi trường.
Bà cho rằng kinh tế đêm có thể làm gia tăng áp lực giao thông, tiếng ồn, vệ sinh môi trường, ảnh hưởng đến đời sống người dân và phát sinh chi phí cho ngân sách địa phương. Do đó, cần hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và Nhà nước.
Đại biểu đề nghị tại khoản 2, Điều 9, bổ sung yêu cầu đề án thử nghiệm phải xác định rõ địa bàn, loại hình, khung thời gian hoạt động và các thủ tục được áp dụng cơ chế đặc thù; có đánh giá tác động, tham vấn cộng đồng dân cư chịu ảnh hưởng trực tiếp; đồng thời quy định trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực và khắc phục hậu quả do hoạt động kinh doanh gây ra.
Đối với khoản 3, Điều 9, quy định thời hạn thử nghiệm tối đa 5 năm, bà đề nghị bổ sung cơ chế đánh giá định kỳ, kịp thời điều chỉnh, tạm dừng hoặc chấm dứt thử nghiệm khi phát sinh rủi ro nghiêm trọng, thay vì chỉ tổng kết khi kết thúc thời hạn.
Đề nghị đầu tư đủ 136 km cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum
Phát biểu thảo luận tại tổ về dự án đầu tư cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum, đại biểu Trần Lan Phương đề nghị Chính phủ xem xét bổ sung 4 km còn lại của tuyến cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum vào phạm vi đầu tư trong giai đoạn này.
Theo quy hoạch, tuyến cao tốc có tổng chiều dài 136 km, nhưng hiện mới dự kiến đầu tư 132 km, còn 4 km chưa được triển khai trong giai đoạn này.
Theo đại biểu, đoạn tuyến này đi qua khu vực Đắk Hà, địa bàn còn nhiều khó khăn nhưng có tiềm năng phát triển nông nghiệp với các sản phẩm chủ lực như cà phê, sầu riêng, chanh leo. Công trình sẽ kết nối vùng sản xuất với các trung tâm chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.
Địa phương cũng đã cam kết đầu tư các tuyến đường kết nối với cao tốc. Do đó, việc triển khai đồng bộ ngay từ đầu sẽ phát huy hiệu quả đầu tư, tránh phát sinh nhu cầu đầu tư bổ sung và ảnh hưởng đến khả năng kết nối toàn tuyến.
"Không nên chỉ nhìn vào chiều dài đoạn tuyến hay chi phí đầu tư trước mắt, mà cần đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh tế - xã hội và không gian phát triển mà công trình mang lại", nữ đại biểu nhấn mạnh.
Về vốn đối ứng, đại biểu lưu ý Quảng Ngãi và Lai Châu đều là các tỉnh có địa bàn biên giới, có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, còn nhiều khó khăn về phát triển kinh tế - xã hội và cân đối ngân sách. Đây cũng là những địa bàn có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh. Vì vậy, đầu tư hạ tầng giao thông tại các địa phương này không chỉ phục vụ phát triển kinh tế, kết nối vùng mà còn góp phần cải thiện đời sống Nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh khu vực biên giới. Riêng Quảng Ngãi phải bố trí 2.047 tỷ đồng vốn đối ứng, tạo áp lực không nhỏ đối với ngân sách tỉnh.
Đại biểu cho rằng, với các dự án giao thông chiến lược, có ý nghĩa liên vùng, mức vốn đối ứng cần căn cứ vào điều kiện thực tế và khả năng cân đối ngân sách của từng địa phương, thay vì áp dụng một cơ chế chung.
Vì vậy, bà đề nghị Chính phủ cân nhắc giảm mức vốn đối ứng, thậm chí xem xét ngân sách Trung ương hỗ trợ toàn bộ đối với những địa phương còn nhiều khó khăn như Quảng Ngãi và Lai Châu.
Bà Trần Lan Phương chia sẻ: "Không nên để những địa phương còn khó khăn lại phải gánh thêm áp lực ngân sách khi triển khai chính những công trình có ý nghĩa thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng".

