Dài hơn một tiếng chiêng
Xuân Bính Ngọ - Có tiếng hú vang từ không gian làng cổ Cơ Tu. Lũ làng đã vào hội, tiếng chiêng dội vào thung lũng, loang ra giữa mênh mông. Những nghi thức của lễ mừng lúa mới bắt đầu.

Đồng bào Bh'noong thực hiện nghi thức trong lễ cúng lúa trăm. Ảnh: PHƯƠNG GIANG
Văn hóa của đồng bào vẫn âm thầm hiện diện, bền bỉ mà mê hoặc đến đắm say, lặng thầm nuôi lấy những sắc màu riêng có của núi, của rừng, của cộng đồng người bản địa…
Giữ hồn cốt cha ông
Sáng sớm ở Tây Giang, sương từ triền núi tràn xuống sân gươl, trời se sắt lạnh. Vòng người khép lại quanh đội chiêng. Abiing Pao đứng giữa đám đông, vận khố. Chừng mười tuổi, vai còn gầy, nhưng đôi mắt rất trong của Pao lấp lánh ánh vui. Tiếng chiêng vang lên, khi khoan thai, lúc dồn dập, theo điệu chiêng của làng. Ánh mắt của Pao không rời vòng chiêng, sáng như một đốm lửa nhỏ vừa được nhen lên trong bếp nhà sàn.
Già làng Briu Pố ngồi bên hiên gươl, lặng lẽ quan sát. Ông đã quen thực hành biết bao nhiêu lễ hội, quen thuộc từng nghi thức. Và hơn hết, nhìn lũ trẻ, ông hiểu rằng mọi sự trưởng thành đều cần thời gian. Đâu đó một quãng, theo lời ông kể, nhiều lễ hội chỉ tồn tại trong ký ức người già. Nhiều làng thiếu trống, thiếu chiêng. Rừng im tiếng, cộng đồng không còn háo hức dự phần vào những lễ nghi truyền thống. Dấy lên những lo lắng trong lòng ông và nhiều già làng khác.
Thế rồi, bằng sự cần mẫn đầy tâm huyết dành cho đồng bào Cơ Tu, cho dân tộc mình, ông lặng lẽ gìn giữ, bảo tồn. Sự có mặt của ông ở rất nhiều sự kiện lớn nhỏ khác về văn hóa, tập tục, không chỉ ở làng mình mà còn ngược lên tận biên giới, xuôi xuống đồng bằng ở những buổi biểu diễn, thậm chí ra Bắc vào Nam, cùng đoàn nghệ nhân tham dự nhiều liên hoan trình diễn văn hóa các tộc người như một lời khẳng định: phải giữ lấy văn hóa, bởi văn hóa là tinh hoa của dân tộc mình. Lễ hội trở lại, như một hạt giống được gieo xuống sườn đồi, tự thân nó rồi sẽ bám núi đồi để lên xanh…
Từ nhiều năm nay, câu chuyện giữ lửa văn hóa được nối dài, không chỉ ở Tây Giang mà khắp các cộng đồng người Cơ Tu, người Co, Bh’noong, Ca Dong, Tà Riềng... Tại Khâm Đức, sau mỗi vụ thu hoạch, người Bh’noong lại chuẩn bị lễ cúng lúa trăm. Không gian lễ giản dị, nhưng trang nghiêm.
Nghệ nhân Y Bẩm ở thôn Lao Đu chậm rãi đặt lễ vật, cất lời khấn. Đám đông theo lệnh của bà, lần lượt thực hành các nghi thức. Trống chiêng nổi lên, là lúc lũ làng hòa làm một. Họ sống với lễ hội, với cộng đồng bằng chính vai trò của mình, nhỏ bé nhưng không thể tách rời, không thể xóa nhòa. Với họ, lễ cúng lúa trăm tựa như dịp để xướng lên một cuốn “gia phả” được truyền từ đời này sang đời khác bằng ký ức và thực hành, không cần ghi chép. Họ gọi tên cộng đồng, tên dân tộc mình, bằng lễ hội.

Văn hóa truyền thống của đồng bào thiểu số sẽ là vốn quý trong hành trình phát triển của thành phố. Ảnh: PHƯƠNG GIANG
Sẽ không thể khuyết vắng lễ hội trong đời sống phong phú của đồng bào vùng cao. Đời sống lễ hội quy tụ những gam màu ấn tượng và độc đáo nhất của từng dân tộc, bằng trang phục, bằng âm nhạc truyền thống, bằng các nghi thức, phong tục và bằng cả niềm tin bất biến của cộng đồng, dẫu những xô lệch của đời sống hiện đại vẫn chực chờ tác động.
Người già làm lễ. Trẻ nhỏ đứng quanh, lắng nghe những câu chuyện về rừng, về suối, về những mùa hạn từng khiến làng lao đao, về lời khấn truyền cầu ước một đời sống ấm êm cho dân làng. Mỗi dịp như vậy, chiêng vang chung một nhịp, rượu cần chuyền tay, câu chuyện cũ được nhắc lại bên bếp lửa. Những lễ hội lặng lẽ nối kết các cộng đồng với nhau, giúp văn hóa vượt ra khỏi ranh giới thôn bản để lan tỏa một cách tự nhiên nhất, bằng vẻ đẹp tự thân của mỗi cộng đồng dân tộc.
Cơ Tu, Bh’noong, Ca Dong, Co, Tà Riềng… mỗi dân tộc mang theo một cách kể chuyện riêng về núi rừng. Có câu chuyện được kể bằng tiếng chiêng. Có câu chuyện nằm trong bát cơm cúng lúa, theo con nước từ khe suối dẫn về làng. Khi đặt cạnh nhau, những mảnh ghép ấy tạo nên bức tranh đa tầng, đa sắc của văn hóa vùng cao Đà Nẵng, thức dậy những ký ức đã được gìn giữ từ bao đời, giữa thăm thẳm màu xanh miên viễn của rừng.
Nguồn lực nội sinh từ văn hóa
Vùng núi phía tây thành phố Đà Nẵng là nơi sinh sống của hơn 161.000 người đồng bào các dân tộc thiểu số. Không đơn thuần phản ánh quy mô dân cư, con số đó gợi ra chiều dày của không gian văn hóa tích tụ qua nhiều thế hệ. Trong những năm gần đây, nguồn lực đầu tư cho bảo tồn được phân bổ theo hướng bền bỉ, lấy cộng đồng làm trung tâm. Các thiết chế văn hóa cơ sở được củng cố để lễ hội, sinh hoạt truyền thống có không gian tồn tại. Văn hóa được ươm sâu vào cộng đồng bằng đời sống tự thân, bén rễ từ niềm tự hào dòng máu, tự hào những thứ thuộc về bản sắc của dân tộc mình trong lòng người trẻ.

Các em nhỏ vùng cao rạng rỡ trong trang phục truyền thống tham gia ngày hội. Ảnh: PHƯƠNG GIANG
Từ nền tảng ấy, các mô hình du lịch cộng đồng dựa trên văn hóa bản địa dần hình thành. Du khách đến làng, ở nhà sàn, ăn cơm rẫy, nghe chiêng bên bếp lửa, tham gia lễ hội cùng người dân. Họ quan sát và sống trong không gian văn hóa, dù chỉ vài ngày. Người dân có thêm thu nhập. Thanh niên có thêm lý do ở lại làng. Bản sắc được bảo tồn bằng chính sự tham gia trực tiếp của cộng đồng.
Tuy vậy, thách thức vẫn hiện hữu. Nhiều nghệ nhân nắm giữ tri thức truyền thống đã lớn tuổi, trong khi lớp kế cận chưa thật sự được gầy dựng bài bản để đủ sức kế thừa. Sức hút của đời sống hiện đại tác động mạnh đến người trẻ, khiến việc truyền dạy các nghi thức, tập tục, nghệ thuật ẩm thực, nghề truyền thống chưa tạo được sức thu hút. Một số lễ hội đứng trước nguy cơ giản lược, xa rời những yếu tố gốc do thiếu điều kiện duy trì. Con đường bảo tồn, vì thế còn đứng trước khá nhiều trở lực…
Theo ông Nguyễn Mạnh Hà - Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo, trong định hướng phát triển chung của thành phố, văn hóa bản địa được nhìn nhận như nguồn lực nội sinh quan trọng. “Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số không chỉ là giữ gìn bản sắc truyền thống mà còn tạo động lực đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Đây không chỉ là trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp mà còn là cơ hội, điều kiện để đánh thức tiềm năng phát triển kinh tế vùng miền núi phía Tây thành phố”, ông Nguyễn Mạnh Hà cho biết.
Núi rừng phía tây Đà Nẵng, nơi phên dậu sinh thái của thành phố đang cất giữ trầm tích văn hóa dày và sâu đủ để tạo ra sự khác biệt. Biết trân trọng, gìn giữ và đánh thức nguồn vốn ấy, thành phố sẽ bước ra thế giới với một căn cước riêng, như một tiếng chiêng từ lễ hội, ngân dài…
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/dai-hon-mot-tieng-chieng-3324832.html











