Đại úy Vũ Đăng Toàn và mệnh lệnh thép 'tông thẳng vào' làm nên lịch sử

Câu chuyện của chỉ huy xe tăng 390 đã hóa thành ký ức chiến đấu bất diệt, kết tinh ý chí quyết thắng và khát vọng hòa bình mãnh liệt của dân tộc Việt Nam.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, Đại úy Vũ Đăng Toàn, khi đó là Chính trị viên Đại đội, chỉ huy xe tăng 390 (Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2) không giấu được xúc động khi chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, nhắc lại thời khắc lịch sử trưa 30/4/1975.

Những ký ức về hành trình tiến quân, trận đánh ác liệt tại cửa ngõ Sài Gòn và khoảnh khắc lịch sử xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập, góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên, như mới diễn ra ngày hôm qua.

Đại úy Vũ Đăng Toàn, chỉ huy xe tăng 390 (Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2).

Đại úy Vũ Đăng Toàn, chỉ huy xe tăng 390 (Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2).

Vượt “cửa ngõ thép”, tiến vào nội đô Sài Gòn

- Thưa ông, sau hơn nửa thế kỷ, ký ức về ngày 30/4/1975 hẳn vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim người lính. Ông có thể kể lại hành trình từ thời khắc nhận lệnh tiến vào Sài Gòn - Gia Định cho đến khi xe tăng 390 tiến vào Dinh Độc Lập, đặc biệt là cảm xúc và tinh thần của bộ đội khi ấy?

Đại úy Vũ Đăng Toàn: Sự kiện đã cách đây hơn 50 năm nên không thể nhớ trọn vẹn từng chi tiết, nhưng tinh thần khi nhận nhiệm vụ tiến vào Sài Gòn - Gia Định, cứ điểm cuối cùng của đối phương, vô cùng quyết liệt. Chúng tôi xác định đây sẽ là trận đánh ác liệt, bởi đối phương chống trả để bảo vệ sự tồn tại của chính quyền họ.

Để vào được nội đô, lực lượng phải xuyên phá nhiều tuyến phòng thủ, chứ không phải đi vào như một cuộc hành quân bình thường. Khi đến cầu Sài Gòn, Tiểu đoàn 1 xe tăng của Lữ đoàn 203 tổ chức mũi thọc sâu quyết định, sử dụng xe tăng T54, T59. Đơn vị hành quân từ khu vực Long Bình vào khoảng hơn 1 giờ sáng ngày 30/4, di chuyển trong đêm.

Hai đại đội đi đầu tiến trước, còn Đại đội 4 đi sau, đóng vai trò lực lượng dự bị chiến lược. Trước đó, tại căn cứ Nước Trong, Đại đội 4 đã thể hiện khả năng chiến đấu hiệu quả nên được giữ lại như “quả đấm thép”, sẵn sàng tung vào thời điểm quyết định.

Khi hai đại đội đi đầu tiếp cận, đối phương đã bố trí sẵn hỏa lực, tính toán cự ly rất kỹ. Khi xe ta vào đúng tầm bắn, họ lập tức nổ súng. Hai bên giao tranh rất quyết liệt. Ta tiêu diệt nhiều mục tiêu nhưng cũng chịu tổn thất lớn, hai đại đội đi đầu gần như mất sức chiến đấu.

Sau đó, Đại đội 4 được lệnh tiến lên. Cảnh tượng tại hai đầu cầu rất đau xót: bộ binh và xe tăng của ta bị thương vong nhiều, xe cháy, chiến sĩ nằm lại khắp nơi. Nếu cán bộ, chiến sĩ không vững tinh thần thì rất khó vượt qua, bởi sự mất mát quá lớn.

Ban Chỉ huy họp nhanh và thống nhất: bằng mọi giá phải vượt cầu. Đội hình được chia làm hai tốp: tốp 3 xe vượt trước để tạo bàn đạp, tốp 5 xe theo sau. Xe tăng 390 của tôi nằm trong tốp đầu.

- Khi tiến vào nội đô Sài Gòn, một không gian hoàn toàn xa lạ với người lính xuất thân từ chiến trường rừng núi, cảm giác của những người lính khi đó như thế nào? Việc hành tiến có gặp trở ngại gì không, thưa ông?

Đại úy Vũ Đăng Toàn: Bộ đội chủ yếu chiến đấu ở rừng nên khi vào thành phố còn nhiều bỡ ngỡ. Sài Gòn lúc đó được coi là “Hòn ngọc Viễn Đông”, nhìn đâu cũng thấy hiện đại so với điều kiện của bộ đội thời bấy giờ.

Phương châm là: “Cứ đến ngã tư Hàng Xanh rẽ trái, qua 7 ngã tư thì đến Dinh”. Nhưng trong chiến đấu, không thể đếm từng ngã tư. Tất cả chỉ tập trung quan sát phía trước, theo dõi địch để đánh vào nơi cuối cùng của kẻ thù.

Vì vậy, xe tăng 390 có lúc bị lạc một đoạn, sau phải quay lại. Nếu không bị lạc, có thể xe 390 đã tiếp cận cổng Dinh đầu tiên.

Cựu chiến binh Vũ Đăng Toàn chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương về thời khắc lịch sử 30/4/1975.

Cựu chiến binh Vũ Đăng Toàn chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương về thời khắc lịch sử 30/4/1975.

Khoảnh khắc lịch sử và thông điệp gửi thế hệ trẻ

- Khoảnh khắc lịch sử khi xe tăng 390 lao thẳng vào cổng chính Dinh Độc Lập chắc hẳn là giây phút không thể nào quên. Khi đó, ông đã đưa ra quyết định như thế nào trong tích tắc sinh tử ấy?

Đại úy Vũ Đăng Toàn: Khi đến nơi, xe tăng 843 do Đại đội trưởng chỉ huy tiếp cận cổng phụ bên trái và dừng lại. Xe tăng 390 lúc đó cách không xa, lập tức tăng tốc lao lên.

Lái xe Nguyễn Văn Tập quay qua xin hỏi ý kiến, tôi ra lệnh ngay: “Tông thẳng vào!”. Xe chuyển hướng chính diện, tăng ga húc tung cổng chính và tiến thẳng vào sân Dinh Độc Lập.

Quan điểm tác chiến lúc đó rất rõ: Đơn vị nào vào trước sẽ cắm cờ. Tôi định cầm cờ chạy vào nhưng thấy Đại đội trưởng đã mang cờ theo phía sau nên chuyển sang nhiệm vụ yểm trợ. Tôi cầm súng AK, nhảy xuống phối hợp chiến đấu.

- Thưa ông, sau khi tiến vào bên trong, giây phút đối diện với toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn và Tổng thống Dương Văn Minh diễn ra như thế nào? Ông còn nhớ những lời nói nào khiến mình ấn tượng nhất?

Đại úy Vũ Đăng Toàn: Hai anh em chạy lên Dinh thì có một sĩ quan cao cấp của ngụy chờ sẵn. Họ chào rất lịch sự, hai bàn tay xoa xoa và cúi đầu: "Thưa hai ông, tôi là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh - phụ tá cho Đại tướng Tổng thống Dương Văn Minh hiện nay. Tổng thống mời hai ông lên làm việc". Câu này 50 năm tôi vẫn nhớ y nguyên, không quên được.

Ông ấy đưa chúng tôi lên lầu hai. Trong nội các đó tập trung đầy đủ các bộ ngành, ban bệ, trên dưới cỡ khoảng 60 người. Họ thấy mình có súng lăm lăm thì sợ lắm. Tôi bảo ông Nguyễn Hữu Hạnh cho người đưa đồng chí Bùi Quang Thận lên cắm cờ càng nhanh càng tốt vì đó là biểu tượng của chiến thắng, để đồng bào, chiến sĩ bớt phải đổ máu. Ông Nguyễn Hữu Hạnh mới nói: "Thưa ông, chúng tôi mới tiếp quản được 2 ngày rưỡi cho nên không biết thang máy đâu cả".

May lúc đó có anh Nguyễn Hữu Thái (Tổng hội Sinh viên Sài Gòn) lên kịp, anh ấy đưa đồng chí Thận lên, còn tôi ở lại dồn toàn bộ nội các và bắt tổng thống Dương Văn Minh. Tôi hỏi ông Hạnh: "Tổng thống Dương Văn Minh đâu?". Ông ấy đưa Dương Văn Minh ra chào tôi. Lúc đó đoàn của anh Phạm Xuân Thệ (Trung đoàn phó Trung đoàn 66) cũng lên. Tôi rất mừng vì đều là người của Quân đoàn 2 vào sớm nhất.

Sau đó, đoàn của anh Chính ủy Bùi Tùng (Lữ đoàn 203) lên. Ông Dương Văn Minh nói: "Chúng tôi đợi các ông vào để bàn giao chính quyền". Đồng chí Trung tá Bùi Tùng đáp trả lại ngay: "Các ông là người bại trận, không còn gì để bàn giao mà các ông phải đầu hàng vô điều kiện". Dương Văn Minh nghe xong sững người, khẽ cúi đầu, lộ rõ vẻ ngượng ngùng. Ông ấy xin tuyên bố đầu hàng tại Dinh nhưng đồng chí Bùi Tùng yêu cầu ra Đài Phát thanh.

Dương Văn Minh sợ bị phái nọ, phái kia bắn trước khi tuyên bố đầu hàng nên yêu cầu đi xe bọc thép, đồng chí Tùng nói: "Chúng tôi đã giải phóng hoàn toàn Sài Gòn - Gia Định, đưa ông ra đài làm việc xong lại đưa về Dinh đảm bảo an toàn".

Cuối cùng, Dương Văn Minh đồng ý theo lực lượng cách mạng tới Đài Phát thanh Sài Gòn đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

- Sau tất cả những khốc liệt của chiến tranh, khi nhiệm vụ hoàn thành, cảm xúc của người lính lúc ấy là gì? Điều gì khiến ông tự hào nhất khi nhìn lại chiến thắng lịch sử này?

Đại úy Vũ Đăng Toàn: Trong chiến đấu, không ai nghĩ đến sống chết, chỉ có một mục tiêu là chiến thắng. Nếu nghĩ đến hy sinh, không thể hành động quyết đoán như việc húc đổ cổng Dinh Độc Lập.

Khi hoàn thành nhiệm vụ, cảm giác rất nhẹ nhõm và tự hào vì đã hoàn thành nhiệm vụ Đảng giao, đơn vị hoàn thành xuất sắc trong chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh vĩ đại.

Chiến dịch mang tên Bác là phải thắng. Từ cấp trên đến cấp dưới đều quyết tử để thắng. Nhờ đó, thành phố đánh giặc mà gần như nguyên vẹn, không bị tàn phá, đó là giá trị rất lớn mà không phải trận chiến nào trên thế giới cũng làm được.

- Từ những trải nghiệm của mình, ông muốn gửi gắm điều gì tới thế hệ trẻ hôm nay, những người sinh ra trong hòa bình, chưa từng đi qua chiến tranh?

Đại úy Vũ Đăng Toàn: Lớp trẻ hôm nay chưa cảm nhận hết giá trị của chiến thắng, bởi họ không phải trải qua chiến tranh, không thấy hết những mất mát, hy sinh. Bộ đội ngày đó sống trong điều kiện vô cùng gian khổ, nhiều người ngã xuống vì bệnh tật, bom đạn.

Muốn yêu nước thì phải hiểu lịch sử. Khi hiểu rồi mới có trách nhiệm xây dựng đất nước, xứng đáng với những người đã hy sinh.

Điều mong mỏi lớn nhất của những người lính đi qua chiến tranh là giữ gìn trọn vẹn đất nước, không để chiến tranh xảy ra thêm một lần nào nữa. Đó là nguyện vọng sâu sắc nhất của một người lính già.

Hơn nửa thế kỷ đi qua, ký ức về thời khắc xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập là biểu tượng của chiến thắng, lời nhắc nhở lặng lẽ nhưng sâu sắc. Những câu chuyện của người lính năm xưa không phải để ca ngợi quá khứ, mà để thế hệ hôm nay hiểu rằng hòa bình được đánh đổi bằng máu xương, nước mắt, tuổi xuân và sự hy sinh to lớn của bao thế hệ cha anh.

Nguyễn Hương - Phương Hà

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/dai-uy-vu-dang-toan-va-menh-lenh-thep-tong-thang-vao-lam-nen-lich-su-454396.html