Đằng sau việc Thái Lan có lãi suất thấp nhất châu Á
Thái Lan, từng được ca ngợi là một "con hổ châu Á" đang nổi lên, đã thế chỗ Nhật Bản để trở thành biểu tượng mới của tăng trưởng kinh tế trì trệ và lãi suất thấp ở châu Á...

Ảnh minh họa - Ảnh: The Nation.
Lãi suất chính sách của Thái Lan hiện chỉ ở mức 1%, một trong những mức thấp nhất trên thế giới, chỉ sau mức 0% của Thụy Sĩ. Trong bối cảnh các ngân hàng trung ương trên toàn cầu đang gấp rút thắt chặt chính sách để hạ nhiệt lạm phát do chiến tranh ở Trung Đông gây ra, Ngân hàng Trung ương Thái Lan (BOT) đã giữ nguyên lãi suất trong ba cuộc họp liên tiếp gần đây nhất.
Sau động thái tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) vào tuần vừa rồi, lãi suất của Nhật Bản đã đạt mức 1,25%, cao hơn lãi suất của Thái Lan.
NGUY CƠ “NHẬT BẢN HÓA”
Giới chuyên gia nhận định mức lãi suất thấp của Thái Lan cho thấy nước này đã trở thành một trong những nền kinh tế đương đầu nguy cơ "Nhật Bản hóa" - một thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng kéo dài của lạm phát thấp và tăng trưởng thấp - cao nhất trong khu vực. Nợ hộ gia đình cao, dân số già hóa nhanh chóng và các động lực kinh tế như du lịch đang suy yếu là những yếu tố kìm hãm tiêu dùng ở Thái Lan, gây áp lực lên tăng trưởng kinh tế.
Bà Louise Loo, trưởng bộ phận kinh tế châu Á tại công ty nghiên cứu Oxford Economics, nhận định với tờ báo Financial Times: "Châu Á nói chung đối mặt với nguy cơ Nhật Bản hóa cao hơn so với phần còn lại của thế giới vì đang già hóa. Và Thái Lan đang chịu tác động mạnh nhất vì mức nợ đã rất cao". Trung Quốc đối mặt với những rủi ro tương tự, nhưng có nhiều đòn bẩy kinh tế và tài khóa hơn để hỗ trợ nền kinh tế của mình - bà Loo nói thêm.
Ông Nond Prueksiri, nhà kinh tế cao cấp tại Trung tâm Thông tin Kinh tế của ngân hàng thương mại Siam, nhận định lãi suất thấp của Thái Lan là "một vấn đề cấu trúc hơn là chu kỳ". Thái Lan “không có yếu tố nhu cầu mạnh, mà là một xã hội già hóa và có mức nợ cao nên khả năng đẩy mạnh tiêu dùng là thấp”, ông nhấn mạnh.
Trước khi chiến tranh giữa Mỹ và Iran nổ ra, Thái Lan đã báo cáo tình trạng giảm phát trong 12 tháng liên tiếp. Chiến tranh đã đẩy giá cả lên cao nhưng lạm phát toàn phần của nước này đã giảm trong 3 tháng liên tiếp tính đến tháng 7 trước khi tăng tốc trở lại trong tháng 8. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) toàn phần của nước này tăng 2,53% trong tháng 8 so với cùng kỳ năm ngoái, so với mức tăng 1,95% của tháng 7.
Áp lực giảm phát không phải là dấu hiệu tốt cho nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á, quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2037 đạt được vị thế thu nhập cao. Tăng trưởng kinh tế hàng năm của Thái Lan đã mắc kẹt ở mức khoảng 2% trong nhiều năm và theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tổng sản phẩm trong nước (GDP) của nước này sẽ tăng chậm lại trong năm nay.
Đại dịch Covid-19 đã giáng một đòn nặng nề vào ngành du lịch, một trụ cột của nền kinh tế Thái Lan. Cùng với đó, lĩnh vực xuất khẩu của nước này đang chịu áp lực do cạnh tranh gay gắt từ hàng hóa có giá rẻ hơn từ Trung Quốc và sự trỗi dậy của các trung tâm sản xuất khu vực như Việt Nam. Mối đe dọa từ thuế quan cao hơn của Mỹ và lực lượng lao động đang thu hẹp cũng gây ra những áp lực lên nền sản xuất của Thái Lan.
Phát biểu sau cuộc họp chính sách tiền tệ gần đây nhất của BOT vào cuối tháng 8, Phó thống đốc phụ trách chính sách tiền tệ Don Nakornthab mô tả tăng trưởng kinh tế là "thấp và không đồng đều". Ông nói rằng BOT vẫn có thể giảm lãi suất trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, nhưng thừa nhận cơ quan này đã "gần đạt đến giới hạn" của những gì chính sách tiền tệ có thể làm để thúc đẩy tăng trưởng. Ông nói rằng các biện pháp tài chính có trọng điểm của ngân hàng trung ương và các biện pháp kích thích tài khóa của chính phủ là cần thiết để đẩy nhanh sự mở rộng kinh tế.
Nhân khẩu học là một phần dẫn tới “nguy cơ Nhật Bản hóa” đối với Thái Lan. Tỷ lệ sinh của Thái Lan đang ở mức thấp nhất trong 75 năm, và WB, tổng tỷ suất sinh của nước này hiện là 1,2 trẻ em mỗi phụ nữ, dưới mức 2,1 cần thiết để duy trì dân số ổn định.
Giới chuyên gia đã dự báo dân số Thái Lan có thể giảm từ 67 triệu người xuống còn 30 triệu người trong 50 năm tới. Cùng với các chuyên gia, giới chức Chính phủ Thái Lan cũng đã cảnh báo về những rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế từ dân số giảm.
“GIÀ TRƯỚC KHI GIÀU”
Ông Miguel Chanco, nhà kinh tế trưởng châu Á mới nổi tại công ty Pantheon Macroeconomics, nói với Financial Times: "Thái Lan từ trước Covid đã chứng kiến dân số trong độ tuổi lao động giảm rõ rệt, và đó chính là câu chuyện về tăng trưởng thấp mang tính cấu trúc trong tương lai. Điều đó có xu hướng đồng nghĩa với lạm phát thấp và kéo theo là lãi suất thấp".
Các vấn đề kinh tế và nhân khẩu học của Thái Lan tương tự như Nhật Bản và Hàn Quốc. Tuy nhiên, Thái Lan đang già đi trước khi đạt được trạng thái quốc gia phát triển. Dân số trên 65 tuổi của nước này đã tăng gấp đôi trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2020, và được dự báo sẽ tăng gấp đôi một lần nữa vào năm 2040 lên khoảng 26% tổng dân số - theo WB.
Ông Burin Adulwattana, một nhà kinh tế độc lập, nhận xét: "Thái Lan sẽ già mà chưa giàu. Thái Lan đang đi theo hướng đi của một nền kinh tế phát triển mà không đạt được mức thu nhập thường thấy ở một nền kinh tế như vậy”.
Thêm vào vấn đề nhân khẩu học là mức nợ cao. Nợ hộ gia đình của Thái Lan tương đương với 86% GDP, cao nhất trong số các quốc gia có thu nhập trung bình cao trên thế giới - theo dữ liệu của ngân hàng HSBC. Một nguyên nhân dẫn tới mức nợ cao này là người tiêu dùng Thái Lan thường tìm đến các khoản vay để trang trải chi phí hàng ngày trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế và tiền lương chậm lại.
Ông Aris Dacanay, nhà kinh tế cấp cao về Đông Nam Á tại HSBC, cho biết: "Một phần lớn thu nhập hộ gia đình thường được dành để trả nợ gốc, dẫn tới hạn chế tiêu dùng". Thực tế này đã ảnh hưởng đến các doanh nghiệp và hoạt động đầu tư, thể hiện qua việc các công ty trì hoãn kế hoạch mở rộng vì không thể dựa vào nhu cầu trong nước hoặc đẩy phần chi phí tăng thêm về phía người tiêu dùng nội địa.
Các nhà kinh tế cho rằng gánh nặng nợ cao đã làm giảm hiệu quả của lãi suất thấp trong việc kích thích lạm phát và tăng trưởng. Chuyên gia Loo của Oxford Economics nói: "Sự truyền tải chính sách về cơ bản đã bị phá vỡ ở Thái Lan, nên rất cần phải có nhiều sự hỗ trợ tài khóa từ Chính phủ trong tương lai".
Theo bà Loo, các biện pháp hỗ trợ bằng chính sách tài khóa là một yếu tố giúp các quốc gia thoát khỏi tình trạng “Nhật Bản hóa”. Chẳng hạn như ở Nhật Bản, cố Thủ tướng Shinzo Abe khi còn cầm quyền đã khởi động chính sách chi tiêu công mạnh tay và thúc đẩy nới lỏng tiền tệ mạnh mẽ để giúp đất nước thoát khỏi vòng xoáy giảm phát kéo dài.
Tuy nhiên, các nhà kinh tế cho rằng Thái Lan thiếu không gian tài khóa để làm như vậy. Họ dự báo Chính phủ Thái Lan sẽ bắt đầu thu hẹp một số chương trình kích thích từ năm tới khi tỷ lệ nợ công trên GDP của nước này tiến gần đến giới hạn tự áp đặt là 70%.
Ông Dacanay: "Việc thu hẹp tài khóa này là cần thiết, và vì thế, tăng trưởng sẽ chậm lại. Và vì tăng trưởng sẽ chậm lại, chính sách tiền tệ cần phải bù đắp”. Ông dự báo BOT sẽ giữ nguyên lãi suất ở mức 1% cho đến cuối năm sau.
Còn theo ông Chanco, các vấn đề nhân khẩu học của Thái Lan và những thách thức đối với mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu đã khiến cho việc thúc đẩy tăng trưởng ngày càng trở nên khó khăn hơn. "Thái Lan càng chần chừ trong việc cải cách, nước này càng mất dần vị thế so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực", ông nói.
Trong quý 2 năm nay, nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng 1,9% so với cùng kỳ năm ngoái, giảm tốc mạnh so với mức tăng 2,8% của quý 1.
Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/dang-sau-viec-thai-lan-co-lai-suat-thap-nhat-chau-a.htm



