Đánh thức ký ức ngàn năm

Cất giữ những thông điệp của người xưa gửi lại cho hậu thế, lặng lẽ ẩn mình sau lớp bụi thời gian, mỗi cổ vật không chỉ là những mảnh ghép của quá khứ mà còn như cầu nối giúp con người hiện tại đối thoại với lịch sử và thấu hiểu cội nguồn. Từ những vật liệu kiến trúc, hoa văn trang trí, đồ dùng sinh hoạt đến đồ trang sức quý hiếm hay các hiện vật mang tính nghi lễ... đều là kết tinh của trí tuệ, niềm tin và đời sống của người Việt qua hàng nghìn năm lịch sử.

Sức sống của cổ vật

Không phải là những hiện vật vô tri trong tủ kính, mỗi cổ vật tại trưng bày chuyên đề "Cổ vật tiêu biểu tỉnh Bắc Ninh" trong khuôn khổ Festival "Về miền di sản Bắc Ninh - 2026" là một lát cắt thời gian, một câu chuyện sống động phản ánh trình độ kỹ thuật, tư duy thẩm mỹ và đời sống tinh thần của người Việt qua các giai đoạn lịch sử. Hơn 500 hiện vật tiêu biểu từ thời kỳ tiền Đông Sơn, Đông Sơn đến các giai đoạn lịch sử sau này đã được lựa chọn trưng bày theo hệ thống chuyên đề khoa học. Điều đáng nói là khi được đặt trong một không gian trưng bày có hệ thống, được thuyết minh và giới thiệu một cách khoa học, những cổ vật không còn "lặng im" mà trở thành những "nhân chứng" biết kể chuyện.

 Du khách tham quan trưng bày chuyên đề "Cổ vật tiêu biểu tỉnh Bắc Ninh" tại Bảo tàng Bắc Ninh số 2.

Du khách tham quan trưng bày chuyên đề "Cổ vật tiêu biểu tỉnh Bắc Ninh" tại Bảo tàng Bắc Ninh số 2.

Chia sẻ sau khi tham quan trưng bày, ông Lê Đức Thắng, du khách yêu cổ vật ở phường Bắc Giang bày tỏ: "Qua chiêm ngưỡng các cổ vật, tôi thấy lịch sử dân tộc hiện lên trực quan, sống động và giàu cảm xúc. Hầu hết cổ vật trưng bày đều thuần Việt, trải dài qua nhiều thời kỳ, giúp người xem hình dung rõ hơn về từng giai đoạn lịch sử".

Một điểm đáng chú ý trong trưng bày lần này là sự tham gia tích cực của các nhà sưu tập tư nhân. Nhiều hiện vật quý được giới thiệu đến công chúng không chỉ đến từ hệ thống bảo tàng mà còn từ các bộ sưu tập cá nhân. Với sự thận trọng của một người trong nghề, nhà sưu tầm cổ vật Đỗ Thiện (Ninh Bình) bày tỏ: "Người chơi cổ vật ở Bắc Ninh không chỉ có đam mê mà còn rất hiểu biết, có kiến thức, nghiên cứu bài bản. Họ đã góp phần gìn giữ di sản một cách nghiêm túc, bổ sung nguồn hiện vật quý cho xã hội. Tham quan trưng bày, tôi đặc biệt quan tâm đến những đồ trang sức bằng ngọc từ thời văn hóa Phùng Nguyên, niên đại 3.000 - 4.000 năm. Đó là những đồ vật mà ngày xưa chỉ vua chúa hoặc tầng lớp quyền quý mới có thể sở hữu".

Ngoài giới thiệu quảng bá, trưng bày cổ vật còn góp phần khơi dậy nhận thức cộng đồng về giá trị di sản, thúc đẩy trách nhiệm bảo tồn trong xã hội. Đồng thời cũng là cách để di sản bước ra khỏi không gian lưu trữ, đến với công chúng.

Mỗi cổ vật một câu chuyện

Ấn vàng "Hoàng đế chi bảo" - một báu vật được đúc vào ngày 4/2/1823 dưới triều vua Minh Mạng là chiếc ấn quan trọng nhất của triều Nguyễn, được sử dụng trong các nghi lễ trọng đại như truyền ngôi, sắc phong hay hoạt động đối nội, đối ngoại. Chiếc ấn đã được truyền qua nhiều đời vua cho đến khi vua Bảo Đại trao lại cho chính quyền cách mạng trong lễ thoái vị ngày 30/8/1945 tại Ngọ Môn (Huế), đánh dấu sự kết thúc của chế độ phong kiến và mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc. Nhưng sau đó, bộ ấn kiếm đã rơi vào tay người Pháp và lưu lạc suốt hơn 70 năm. Đến tháng 11/2023, chiếc ấn quý mới được doanh nhân Nguyễn Thế Hồng đưa trở lại Việt Nam. Ngày 31/12/2024, Ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” chính thức được công nhận là Bảo vật quốc gia.

Cũng là một hiện vật quý từ thời vua Minh Mạng, cổ vật "Chuông chùa Ngũ Hộ" đang được lưu giữ và bảo quản tại Bảo tàng Bắc Ninh số 2 là một minh chứng đặc biệt cho hành trình đầy biến động của một cổ vật gắn với lịch sử dân tộc. Theo hồ sơ tư liệu của Bảo tàng, chuông có mã số BTBN 434, chất liệu đồng, niên đại thời Nguyễn, đường kính 42 cm, cao 1 m, trọng lượng 120 kg. Quai chuông chạm hình rồng hai đầu, bốn phía khắc bốn chữ "Ngũ Hộ Tự Chung". Trên thân chuông còn lưu lại những dòng chữ Hán kể lại quá trình hình thành đầy gian nan: Chuông chùa từng bị chiến tranh thiêu hủy, rồi được đúc lại vào năm 1825 nhưng lại bị cướp mất. Sau hai năm quyên góp tiền của và công sức, quả chuông thứ ba được hoàn thành vào năm Minh Mạng thứ chín (1828). Điều đáng chú ý là trên thân chuông còn ghi danh hơn 300 người thuộc 30 làng xã trong vùng đã chung tay góp tiền đúc chuông. Chi tiết này vừa phản ánh tinh thần cộng đồng, vừa cho thấy vai trò của di sản trong đời sống tâm linh và văn hóa của cư dân vùng Kinh Bắc xưa.

Nhưng hành trình của quả chuông chưa dừng lại ở đó. Năm 1945, khi phát xít Nhật chiếm đóng Bắc Ninh đã mang chuông về Nhật Bản và bán lại cho một cửa hàng đồ cổ ở Tokyo. Tại đây, ông Watanabe Takuro - một luật sư yêu cổ vật đã phát hiện và nhận ra xuất xứ của quả chuông qua những dòng minh văn. Bị cuốn hút bởi giá trị lịch sử của hiện vật, ông đã đứng ra vận động quyên góp, thành lập "Hội hồi hương chuông cổ" với sự tham gia của nhiều nhà tu hành, nhà văn và bạn bè. Sau nhiều nỗ lực, năm 1978, quả chuông đã được đưa về Việt Nam và trao tại chùa Quán Sứ (Hà Nội). Nhiều năm sau, chuông chùa Ngũ Hộ được đưa về lưu giữ bảo quản tại Bảo tàng Bắc Ninh (nay là Bảo tàng Bắc Ninh số 2). Hành trình hồi hương của chuông chùa Ngũ Hộ không chỉ là câu chuyện về một cổ vật trở về cố hương mà còn là biểu tượng của sự kết nối văn hóa vượt qua biên giới, của lòng trân trọng quá khứ từ những con người thuộc các nền văn hóa khác nhau...

Nếu chuông chùa Ngũ Hộ kể câu chuyện về hành trình lưu lạc và hồi hương thì những mảnh khuôn đúc trống đồng tìm thấy tại thành cổ Luy Lâu lại mở cánh cửa đi sâu vào trầm tích lịch sử dân tộc thời Bắc thuộc. Hàng nghìn mảnh khuôn đúc trống đồng, trong đó có những mảnh khuôn lớn với hoa văn rõ nét đã được tìm thấy qua khai quật khảo cổ và đang được lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng Bắc Ninh số 2. Các đặc trưng hình thái và phong cách hoa văn trên mảnh khuôn đúc cho thấy sự kế thừa liên tục của truyền thống văn hóa Đông Sơn, đồng thời phản ánh quá trình tiếp biến văn hóa trong bối cảnh giao lưu, tiếp xúc với văn hóa Hán. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hồng Sơn, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, những mảnh khuôn đúc trống đồng từng bước giải mã những bí ẩn về vai trò của Luy Lâu trong tiến trình lịch sử. Không chỉ là trung tâm hành chính, đô thị và tôn giáo lớn dưới thời Bắc thuộc, Luy Lâu còn là trung tâm luyện kim, đúc đồng quy mô lớn của cư dân bản địa.

Dù khác nhau về chất liệu, niên đại và cất giữ một câu chuyện riêng song mỗi cổ vật trưng bày tại Festival "Về miền di sản Bắc Ninh - 2026" đều là những mảnh ghép quý trong bức tranh lớn của lịch sử, văn hóa dân tộc. Tựa như những "mạch ngầm ký ức" bền bỉ chảy qua thời gian, các di vật, cổ vật đã mở ra những cuộc "đối thoại" với tiền nhân, giúp chúng ta nhận diện sâu sắc hơn bản sắc Việt để trân trọng, gìn giữ và tiếp nối trong dòng chảy đương đại.

Bài, ảnh: Thanh Lâm

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/danh-thuc-ky-uc-ngan-nam-postid442557.bbg