Đánh thức 'mỏ vàng' từ phụ phẩm nông nghiệp
Thay vì xem phụ phẩm nông nghiệp là rác thải và xử lý bằng cách đốt bỏ gây ô nhiễm, nông dân Nghệ An đang dần chuyển dịch sang tư duy kinh tế tuần hoàn.
Việc tận dụng rơm rạ, vỏ trấu, thân cây màu để chế biến thành phân bón hữu cơ không chỉ giúp tiết kiệm hàng tỷ đồng chi phí vật tư mỗi năm mà còn là “chìa khóa” để địa phương này hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ sản phẩm hữu cơ chiếm 20% giá trị sản xuất trong giai đoạn 2026 - 2030.

Khi rơm rạ trở thành tài sản. Ảnh minh họa: Hoàng Hùng - TTXVN
*Khi rơm rạ trở thành tài sản
Tại Nghệ An, hình ảnh những cột khói đen bao phủ cánh đồng sau mỗi mùa thu hoạch đang dần được thay thế bằng cảnh tấp nập thu gom rơm rạ, phụ phẩm. Đây là sự thay đổi về hành vi môi trường và tư duy kinh tế của người nông dân.
Gia đình bà Trần Thị Hoa, thôn Thanh Tâm, xã Quỳnh Anh là một minh chứng điển hình cho sự chuyển dịch này. Với 3 sào rau màu, trước đây bà Hoa phải gánh khoản chi phí khổng lồ từ phân bón hóa học. Bà chia sẻ rằng, kể từ khi chuyển sang ủ rơm rạ, dây lạc, thân vừng với chế phẩm sinh học, gia đình không chỉ tiết kiệm được một khoản tiền lớn mà chất lượng đất còn được cải thiện rõ rệt, đất tơi xốp và cây trồng ít sâu bệnh hơn hẳn. Khi nguồn phụ phẩm tại gia đình không đủ, ông bà còn chủ động đi mua thêm rơm từ các vùng lúa lân cận để về ủ phân chuồng bón cho rau.
Tại xã Quỳnh Anh, với hơn 1.522 ha rau màu, vì vậy rnhu cầu về phân bón là rất lớn. Địa phương này đã nhanh chóng nhận ra tiềm năng từ 1.201 ha đất lúa để thiết lập một vòng lặp tuần hoàn: lấy rơm rạ bón ngược lại cho rau.
Ông Bùi Xuân Trúc, Trưởng phòng Kinh tế xã Quỳnh Anh, phân tích sâu hơn về giá trị kinh tế: “Giá trị canh tác rau màu bình quân tại địa phương có thể đạt tới 630 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 5 lần so với trồng lúa. Việc tự chủ được nguồn phân hữu cơ từ phụ phẩm giúp giảm đáng kể chi phí đầu vào, từ đó nâng cao biên lợi nhuận cho bà con. Trước đây chi phí hóa học rất cao, nhưng nay rau màu sinh trưởng tốt hơn, bền vững hơn nhờ công nghệ vi sinh”.
Hiện nay, xã Quỳnh Anh đã ứng dụng mạnh mẽ các chế phẩm như EM, Trichoderma, Azotobacter là những giải pháp nông nghiệp hữu cơ bền vững, giúp cải tạo đất, bảo vệ cây trồng và nâng cao năng suất mà không gây độc hại để xử lý phụ phẩm. Kết quả bước đầu rất khả quan với 4,4 ha rau hữu cơ đã hình thành và đang tiếp tục nhân rộng các mô hình VietGAP, GlobalGAP. Tầm nhìn đến năm 2030, xã đặt mục tiêu quy hoạch 50 ha rau và 100 ha lúa hữu cơ tập trung.
Hợp tác xã nông nghiệp Thành Vinh, xã Hưng Nguyên Nam là đơn vị tiên phong trong sản xuất hữu cơ và liên kết chuỗi tại Nghệ An. Dưới sự dẫn dắt của Giám đốc Nguyễn Văn Thành, hợp tác xã đã biến những vùng đất cát bỏ hoang thành trang trại hữu cơ 150 ha với các sản phẩm chủ lực như bí xanh, dưa chuột, sâm ngưu bàng.
Điểm sáng nhất trong mô hình của anh Thành chính là việc ứng dụng triệt để tư duy kinh tế tuần hoàn. Thay vì vứt bỏ, toàn bộ phụ phẩm nông nghiệp được tái sử dụng ngay tại trang trại: các loại quả kém chất lượng được tận dụng làm nguồn thức ăn sạch cho đàn lợn đen bản địa; đồng thời, thân cây rau màu sau thu hoạch được xử lý để quay vòng làm phân bón hữu cơ cải tạo đất.
Nói về việc tận dụng phụ phẩm, anh Thành khẳng định: “Việc tận dụng phụ phẩm từ cây hoa màu làm phân bón và biến quả kém chất lượng thành nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho đàn lợn không chỉ giúp giảm chi phí đầu vào, bảo vệ môi trường mà còn tạo ra chu trình sản xuất khép kín, nâng cao giá trị sản phẩm. Đây là chìa khóa để bà con nông dân đạt thu nhập tối thiểu 50 triệu đồng/ha một cách bền vững”.
Nhờ quy trình này, năm 2023, Hợp tác xã nông nghiệp Thành Vinh đã xuất sắc nhận chứng nhận trang trại hữu cơ, khẳng định hướng đi đúng đắn của nông nghiệp tuần hoàn.
* Đòn bẩy cho chuỗi giá trị xanh
Không dừng lại ở quy mô hộ gia đình, việc xử lý phụ phẩm nông nghiệp tại Nghệ An đang hướng tới công nghiệp hóa thông qua sự liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp.

Rơmđược dùng làm chất độn chuồng, sau đó ủ mục bón lại cho ruộng. Ảnh minh họa: Văn Tý-TTXVN
Tại xã Kim Liên, ông Nguyễn Văn Minh, xóm Kim Liên 1, xã Kim Liên đã biến 5 sào lúa và đàn bò 4 con thành một hệ sinh thái nhỏ. Rơm sau vụ Xuân được ông dùng làm chất độn chuồng, sau đó ủ mục bón lại cho ruộng. Lượng rơm dư thừa được ông bán cho những hộ trồng rau sạch ở xã Đại Huệ hoặc các đơn vị thu mua. Đối với vụ Hè Thu, khi thời gian đất nghỉ kéo dài đến 4 tháng, ông chọn cách xử lý tại chỗ để tạo nguồn mùn tự nhiên cho vụ sau.
Theo ông Lê Văn Hồng, Phó phòng Kinh tế xã Kim Liên, tỷ lệ rơm rạ được tái chế trên địa bàn hiện đã đạt khoảng 50%. Đặc biệt, sự xuất hiện của các máy cuộn rơm chuyên dụng đã mở ra kênh cung ứng trực tiếp cho các doanh nghiệp lớn như Trang trại TH. Tại đây, rơm rạ không còn là “rác” mà trở thành nguồn thức ăn thô xanh quan trọng cho đàn bò sữa, nguyên liệu đầu vào để sản xuất phân bón quy mô công nghiệp.
Sự bắt tay giữa người dân và doanh nghiệp không chỉ giải quyết triệt để bài toán ô nhiễm môi trường đồng ruộng mà còn tạo ra giá trị gia tăng trên cùng một đơn vị diện tích. Theo tính toán kỹ thuật, mỗi héc-ta lúa cung cấp khoảng 10 tấn rơm rạ. Nếu xử lý bằng chế phẩm sinh học, lượng phân bón thu được có hàm lượng mùn rất cao, thay thế hiệu quả cho các loại phân vô cơ (đạm, lân, kali) vốn đang có giá thành đắt đỏ.
Ông Phan Duy Hải, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Nghệ An khẳng định: “Phân hữu cơ tự chế không chỉ cung cấp dinh dưỡng ổn định mà còn cải thiện đặc tính lý - hóa - sinh của đất, giúp đất giữ nước tốt hơn, tăng khả năng chịu hạn cho cây trồng và tiết kiệm tối đa chi phí đầu vào”.
Dù tiềm năng là rất lớn và đã có những mô hình thành công, nhưng thực tế việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp tại Nghệ An vẫn còn những rào cản nhất định. Tình trạng lạm dụng phân bón vô cơ vẫn còn phổ biến do tâm lý e ngại của một bộ phận bà con nông dân.
Nguyên nhân chính được xác định là do áp lực thâm canh tăng năng suất và sự tiện dụng “đánh nhanh thắng nhanh” của phân hóa học. Bên cạnh đó, hạ tầng thu hoạch, sơ chế và bảo quản tại chỗ còn yếu khiến một lượng lớn phụ phẩm vẫn bị lãng phí. Tỷ lệ ứng dụng công nghệ vi sinh dù có tăng nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hàng triệu tấn phụ phẩm phát sinh mỗi năm.
Để giải quyết vấn đề này, tỉnh Nghệ An đã hỗ trợ chế phẩm để sản xuất hàng trăm nghìn tấn phân hữu cơ vi sinh. Trong giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh xác định mục tiêu nâng tỷ lệ sản phẩm hữu cơ chiếm 20% giá trị sản xuất toàn ngành.
Để đạt được con số này, ông Phan Duy Hải nhấn mạnh vào ba trụ cột giải pháp. Đó là xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn bài bản, chuyển giao công nghệ xử lý chi phí thấp. Từ đó tuyên truyền giúp người dân hiểu rõ tác hại của việc lạm dụng hóa chất và lợi ích sát sườn từ rơm rạ, bẹ ngô. Song song với hỗ trợ tăng cường tập huấn, chuyển giao công nghệ đóng gói và hỗ trợ xây dựng thương hiệu OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) cho các sản phẩm hữu cơ.
Việc biến phụ phẩm nông nghiệp thành tài nguyên không chỉ là câu chuyện của ngành nông nghiệp mà là lộ trình tất yếu để xây dựng một nền kinh tế xanh, bền vững. Khi người nông dân thay đổi được tập quán, tự giác sản xuất phân bón hữu cơ, đó chính là lúc nông nghiệp Nghệ An thực sự bước vào kỷ nguyên tuần hoàn, nơi không có gì bị bỏ đi và mọi giá trị đều được tái tạo.
Nguồn Bnews: https://bnews.vn/danh-thuc-mo-vang-tu-phu-pham-nong-nghiep/421428.html










