'Đánh thức' tiềm năng kinh tế dưới tán rừng
Lào Cai có lợi thế lớn về tài nguyên rừng, đa dạng sinh học cùng nhiều sản vật bản địa như mật ong, trà khôi nhung, cây dược liệu, quế, măng, sơn tra... Thông qua chương trình OCOP, các sản phẩm gắn với rừng đang từng bước được chuẩn hóa chất lượng, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường, góp phần tạo sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân vùng cao.

Tài nguyên rừng rộng lớn tạo nền tảng để Lào Cai phát triển kinh tế dưới tán rừng, từ lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu đến các sản phẩm OCOP đặc hữu.
Với tổng diện tích tự nhiên hơn 13.200 km2, trong đó diện tích rừng trên 865.000 ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 61,3%, Lào Cai có nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế lâm nghiệp đa mục tiêu, nhất là lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu và các sản phẩm OCOP đặc hữu.

Từ lợi thế tài nguyên rừng cùng sự vào cuộc của các địa phương, chương trình OCOP đang tạo thêm động lực để nhiều sản vật bản địa vươn ra thị trường. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có gần 600 sản phẩm OCOP, trong đó nhiều sản phẩm gắn với lợi thế rừng, lâm sản ngoài gỗ và dược liệu như mật ong, trà dược liệu, quế, măng, sơn tra, nấm hương, nấm linh chi… từng bước khẳng định giá trị.
Trong câu chuyện khai thác lợi thế từ rừng, mật ong Mù Cang Chải là một trong những sản phẩm tiêu biểu. Nhờ điều kiện tự nhiên trong lành, thảm thực vật phong phú, nguồn hoa tự nhiên đa dạng, nghề nuôi ong lấy mật đã trở thành sinh kế của nhiều hộ dân vùng cao.

Nghề nuôi ong lấy mật dưới tán rừng góp phần tạo thu nhập cho người dân, đồng thời khuyến khích cộng đồng gìn giữ nguồn hoa tự nhiên và môi trường sinh thái.
Tại xã Púng Luông, nghề nuôi ong lấy mật được duy trì, phát triển nhờ lợi thế rừng và nguồn hoa tự nhiên phong phú. Những thùng ong được đặt dưới tán rừng, ven các khu vực có nhiều loài hoa tự nhiên, tạo nên sản phẩm mật ong có màu vàng óng, vị ngọt thanh, hương thơm dịu, mang nét riêng của vùng núi cao. Với người nuôi ong, giữ rừng cũng là giữ nguồn hoa, giữ môi trường sống của đàn ong và giữ sinh kế lâu dài cho gia đình. Gắn bó với nghề nuôi ong nhiều năm, anh Nguyễn Văn Toản - Giám đốc Hợp tác xã Xây dựng và Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Mù Cang Chải, chia sẻ: “Trước đây, sản phẩm làm ra chất lượng nhưng ít người biết đến. Khi tham gia chương trình OCOP, từ quy trình sản xuất đến bao bì, nhãn mác đều được hoàn thiện hơn, giúp sản phẩm tạo được niềm tin với người tiêu dùng”.
Đến nay, sản phẩm mật ong hoa tự nhiên Mù Cang Chải đã được công nhận OCOP 3 sao, đồng thời được cấp chỉ dẫn địa lý và đạt tiêu chuẩn VietGAP, giúp sản phẩm mở rộng thị trường, từng bước khẳng định vị thế trên thị trường trong nước. Từ sản vật vùng cao, mật ong Mù Cang Chải đang trở thành sản phẩm hàng hóa có giá trị, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.
Với cây dược liệu, sản phẩm trà khôi nhung của Hợp tác xã Tiến Thành T&T là một trong những ví dụ của hướng phát triển sản phẩm bản địa theo chuỗi giá trị. Từ vùng trồng hơn 21 ha với các loại cây như khôi nhung, nghệ, tía tô, gừng… hợp tác xã đã đầu tư thiết bị chế biến, đóng gói trà túi lọc, từng bước nâng cao chất lượng và mẫu mã sản phẩm.

Người dân thu hái khôi nhung phục vụ chế biến trà dược liệu.
Sản phẩm trà khôi nhung được công nhận OCOP 3 sao, góp phần mở rộng đầu ra cho cây dược liệu và nâng cao thu nhập cho các thành viên. Theo đại diện Hợp tác xã Tiến Thành T&T, các sản phẩm trà khôi nhung, trà tía tô túi lọc được phát triển theo hướng hữu cơ, an toàn, nhờ đó, ngày càng được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh quan tâm. Từ cách làm này, cây dược liệu không chỉ được nâng giá trị mà còn mở thêm hướng sinh kế cho người dân vùng trồng nguyên liệu.
Thực tế cho thấy, khi sản vật bản địa được tổ chức sản xuất bài bản, gắn với tiêu chuẩn chất lượng và xây dựng thương hiệu, giá trị mang lại cao hơn nhiều so với bán nguyên liệu thô. Đây là hướng đi phù hợp để phát triển kinh tế nông thôn trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên bản địa. Hiện nay, cùng với mật ong và trà khôi nhung, nhiều sản phẩm OCOP khác gắn với lợi thế rừng cũng đang phát triển như trà dây leo, giảo cổ lam, cà gai leo, hoàng sin cô, nấm linh chi; các sản phẩm từ quế như tinh dầu quế, bột quế, trà quế; cùng các sản phẩm từ măng, sơn tra… Từ những sản vật quen thuộc của núi rừng, các chủ thể OCOP đã chú trọng chế biến, hoàn thiện bao bì, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.
Theo thống kê của ngành lâm nghiệp tỉnh, năm 2025, toàn tỉnh khai thác khoảng 400.000 tấn lâm sản ngoài gỗ. Riêng vỏ quế mang lại giá trị hàng trăm tỷ đồng, cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của kinh tế lâm sản trong phát triển nông thôn. Đây cũng là nguồn nguyên liệu quan trọng để phát triển các sản phẩm đặc hữu, nâng giá trị kinh tế rừng và tạo việc làm cho người dân vùng cao.
OCOP không chỉ là chương trình xếp hạng sản phẩm mà còn là quá trình thay đổi tư duy sản xuất của người dân. Từ sản xuất nhỏ sang hàng hóa có tiêu chuẩn; từ bán nguyên liệu thô sang xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và mở rộng thị trường, chương trình đã tạo động lực để các chủ thể kinh tế nông thôn nâng cao chất lượng sản phẩm.
Quan trọng hơn, khi người dân có thu nhập từ mật ong, dược liệu, quế, măng hay sơn tra... rừng từ tài nguyên cần bảo vệ trở thành không gian sinh kế bền vững. Chính lợi ích kinh tế từ rừng là động lực để người dân gắn bó, giữ gìn và phát triển rừng.
Việc phát triển OCOP từ lợi thế dưới tán rừng góp phần nâng cao thu nhập, tạo việc làm tại chỗ và thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới ở vùng cao. Nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác được hình thành, từng bước kết nối người dân với thị trường, đưa sản phẩm bản địa đến gần hơn với người tiêu dùng.
Để kinh tế dưới tán rừng phát triển bền vững, các địa phương cần tiếp tục hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu, nâng cao năng lực chế biến, mở rộng thị trường tiêu thụ và tăng cường liên kết giữa người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp. Đồng thời, quá trình phát triển phải gắn với bảo vệ tài nguyên rừng, giữ gìn đa dạng sinh học và khai thác hợp lý các nguồn lợi từ thiên nhiên.
Từ mật ong hoa tự nhiên, trà khôi nhung đến quế, măng, sơn tra, nấm và các sản phẩm dược liệu bản địa, nhiều sản vật gắn với rừng đang từng bước được nâng tầm nhờ OCOP. Khi được chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường, giá trị của rừng không chỉ ở màu xanh sinh thái mà còn hiện hữu trong sinh kế của người dân vùng cao. "Đánh thức" tiềm năng kinh tế dưới tán rừng vì thế cũng chính là cách để giữ rừng, sản phẩm bản địa vươn xa, nông thôn mới phát triển bền vững.
Nguồn Lào Cai: https://baolaocai.vn/danh-thuc-tiem-nang-kinh-te-duoi-tan-rung-post901219.html











