Đạo diễn, nhà sáng lập công ty VietPictures Trương Công Tú: Dự án 'Sử làng sử nước' để bảo vệ 'Căn cước dân tộc' trên không gian mạng'
Nếu lịch sử chính thống cho chúng ta một bộ khung về lịch sử dân tộc, thì chính sử làng, với những truyền thuyết, thần tích và tri thức truyền miệng, mới đắp lên bộ khung ấy da thịt và linh hồn...

Cửu phẩm liên hoa chùa Cổ Lễ, một trong những di sản được số hóa trong dự án Sử làng sử nước
Trong bối cảnh Trí tuệ Nhân tạo (AI) đang tái định hình cách nhân loại tiếp cận tri thức, những di sản phi vật thể nằm trong đầu các cụ già ở làng quê Việt Nam đang đứng trước hai kịch bản: Hoặc được số hóa để trở thành "nguyên liệu văn hóa" cho tương lai, hoặc vĩnh viễn tan biến khi những thế hệ cổ nhân cuối cùng nằm xuống.
Thương Gia đã có cuộc trò chuyện với Đạo diễn, nhà sáng lập công ty VietPictures Trương Công Tú, người khởi xướng dự án "Sử làng sử nước" nhằm số hóa di sản tại những ngôi làng Việt tiêu biểu.
Lâu nay chúng ta vẫn quen nhìn lịch sử qua hệ thống SGK, thư tịch cổ hay các công trình nghiên cứu hàn lâm. Tại sao ông lại chọn góc nhìn có phần "đi ngược dòng" khi đặt "Sử làng" ngang hàng, thậm chí là cao hơn "Sử nước"?
Lịch sử quốc gia không trọn vẹn nếu chỉ nằm trong những nghiên cứu quan phương. Nó đang sống, đang thở và cũng đang tan dần dưới những mái đình làng.
Luôn có một khoảng cách giữa các nhà nghiên cứu chính thống và tâm thức dân gian. Lịch sử quan phương cần văn bản, niên đại, chứng cứ khảo cổ và phương pháp khoa học chặt chẽ. Nhưng người dân địa phương, chủ thể của di sản, lại sống bằng niềm tin truyền miệng qua hàng ngàn năm.

Đạo diễn Trương Công Tú và Nhà sử học Lê Văn Lan
Chính sử cho chúng ta một Hưng Đạo Đại vương với Hịch tướng sĩ. Nhưng đi qua hàng chục ngôi làng Việt, Đức Thánh Trần có thể nhân bản thành hàng chục huyền sử: Làng này ông là võ tướng đánh giặc, làng sông nước ông thành vị thần dạy dân chài lưới và bảo hộ bình yên, làng khác ông có thể hóa thân thành vị thánh chữa bệnh cứu người.
Chính sự "phi lý" và đa dạng đó mới là đỉnh cao của tính nhân bản. Dân làng "kéo" thần xuống chiếu cạp, chia sẻ với thần nỗi đau mất mùa, cơ hàn. Không có dòng sử làng bồi đắp, lịch sử Việt Nam sẽ chỉ là một bảng niên biểu thiếu cảm xúc.
Sự đa dạng dân gian ấy vốn dĩ đã tồn tại tự nhiên hàng ngàn năm qua. Vì sao đến thời điểm này, ông lại cảm thấy sự cấp bách đến mức phải phát động một cuộc "giành giật với thời gian"?
Vì chúng ta đang chứng kiến sự sụp đổ lặng lẽ của các "thư viện sống".
Hiện nay, tri thức tinh hoa của làng xã, từ thần tích, tập tục, phong thổ đến bí truyền nghề cổ, hầu hết nằm trong đầu các cụ già 80, 90 tuổi. Mỗi khi một cao niên tạ thế, một kho tàng di sản phi vật thể bị mất đi mà hoàn toàn không có bản sao lưu.

Đạo diễn Trương Công Tú chụp cùng Bảo vật Quốc gia Hộp đựng xá lợi Tháp Nhạn - Nghệ An
Cùng lúc đó, các lễ hội truyền thống đang bị "hành chính hóa", dàn dựng kịch bản kiểu sự kiện để phục vụ báo cáo hay ống kính truyền hình, làm mất đi tính "thiêng" nguyên bản. Di tích thì xuống cấp, người trẻ thì ly hương. Ngôi làng đứng trước nguy cơ mất đi ký ức.
Dự án "Sử làng sử nước" với sự đồng hành của Quỹ VinIF chọn cột mốc 52 tuần liên tục tại 52 ngôi làng tiêu biểu như một cuộc chạy việt dã. Mỗi tuần một làng, đội ngũ dự án cắm chốt để thu âm, ghi hình, tư liệu hóa toàn bộ ký ức truyền miệng trước khi quá muộn.
Khái niệm "xâm lăng văn hóa" thường gắn với phim ảnh, âm nhạc hay hàng hóa ngoại lai. Tại sao ông lại đặt vấn đề số hóa sử làng như một trận tuyến bảo vệ chủ quyền trong thời đại AI?
Thời đại AI đã thay đổi hoàn toàn cuộc chơi. Cuộc xâm lăng văn hóa 4.0 không dùng đại bác, mà dùng thuật toán.
Trí tuệ nhân tạo học từ dữ liệu. 90% dữ liệu huấn luyện các mô hình ngôn ngữ lớn hiện nay đến từ phương Tây và các quốc gia phát triển, nơi mọi ngóc ngách lịch sử của họ đã được số hóa. Nếu di sản của làng xã Việt Nam không được chuyển hóa thành dữ liệu số, đối với AI, nó nghiễm nhiên... không tồn tại.
Hãy tưởng tượng, 20 năm nữa, khi con cháu chúng ta hỏi AI về triết lý con rồng cháu tiên, cỗ máy sẽ trả về những đáp án bị nhào nặn qua góc nhìn ngoại lai, hoặc tệ hơn là tự "bịa" ra tri thức do thiếu dữ liệu bản địa.
Chúng tôi không đến làng với tư cách những nhà nghiên cứu mang tri thức đến dạy dân làng. Chúng tôi đến để lắng nghe, ghi chép, mã hóa và trao trả lại quyền làm chủ lịch sử cho chính người dân địa phương."
Nếu không cấp "căn cước công dân số" cho di sản làng xã ngay hôm nay, chúng ta đang tự tay dâng nộp không gian tâm thức của thế hệ tương lai cho các thuật toán ngoại quốc. Số hóa sử làng, vì vậy, là chiến dịch đúc những "viên đạn dữ liệu" để bảo vệ căn cước dân tộc trên không gian mạng.
Sau khi 52 tuần kết thúc, sản phẩm cuối cùng của "Sử làng sử nước" sẽ là gì, và làm sao để những dữ liệu đó không bị đắp chiếu trong các ổ cứng kỹ thuật số?
Sản phẩm của dự án không phải là những tập báo cáo dày cộp. Sản phẩm thực sự là sự thức tỉnh niềm tự hào nội sinh của người dân địa phương.
Bên cạnh bộ dữ liệu số hóa để nạp vào hệ thống lưu trữ và cung cấp dữ liệu sạch cho AI, dự án tạo ra các ấn phẩm truyền thông đa phương tiện, các câu chuyện hình ảnh ngắn dễ tiếp cận.

Nghi thức chui kiệu tại lễ hội chùa Keo, Thái Bình (cũ)
Khi một đứa trẻ hay một người trẻ ở làng hiểu được tại sao ngôi đình làng mình lại thờ vị Thành hoàng này, tại sao tục lệ làng mình lại độc bản và khác biệt hoàn toàn với làng bên cạnh, tự khắc họ sẽ có ý thức bảo tồn. Mọi nguồn quỹ hay mệnh lệnh hành chính từ trên xuống đều vô nghĩa nếu chính dân làng không cảm thấy kiêu hãnh về nơi mình sinh ra.
Nếu gói gọn thông điệp lớn nhất của dự án "Sử làng sử nước" trong một câu, ông sẽ nói gì?
Chính sử có thể được viết lại hay chỉnh sửa qua các thời kỳ, nhưng sử làng, với bia miệng muôn đời, mới là cuốn lịch sử không bao giờ bị bóp méo, vì nó được khắc trực tiếp vào lòng dân.
Bảo tồn sự đa dạng của sử làng chính là bảo tồn mạch sống ngầm nuôi dưỡng dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm sóng gió.











