Đào tạo 1.000 tiến sĩ cho Thủ đô: Không để lạm phát bằng cấp

Hà Nội đang xây dựng dự thảo chính sách và dự kiến chi 300 tỷ đồng để hỗ trợ đào tạo 1.000 nghiên cứu sinh giai đoạn 2026 - 2030 nhằm phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao cho Thủ đô.

Học viện Tài chính trao bằng tiến sĩ năm 2025 cho các nghiên cứu sinh. Ảnh: Đình Tuệ

Học viện Tài chính trao bằng tiến sĩ năm 2025 cho các nghiên cứu sinh. Ảnh: Đình Tuệ

Đây được xem là bước đi mang tính chiến lược nhưng cũng đầy thách thức trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tinh hoa.

Định hướng đột phá

Theo PGS.TS Trần Thu Hương - giảng viên Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, đặc biệt ở bậc tiến sĩ trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ là xu hướng được nhiều quốc gia phát triển ưu tiên. Hoạt động này thúc đẩy nghiên cứu sáng tạo, chuyển giao công nghệ, góp phần xây dựng nền khoa học tự chủ, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững và hội nhập quốc tế.

Hà Nội xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh gắn với các bài toán lớn và điểm nghẽn phát triển của Thủ đô là phù hợp với xu thế chung của thế giới cũng như nhu cầu thực tiễn của Việt Nam. Khi việc đào tạo tiến sĩ được gắn với các vấn đề cụ thể của đời sống kinh tế - xã hội, các đề tài nghiên cứu sẽ có định hướng rõ ràng hơn, địa chỉ ứng dụng cụ thể và có khả năng lan tỏa rộng rãi.

Thay vì đào tạo đại trà, đề án tập trung vào các lĩnh vực then chốt như chuyển đổi số, công nghệ cao, kinh tế xanh và quản trị đô thị. Hà Nội tập trung hơn 60% nhà khoa học cả nước nhưng vẫn thiếu hụt các chuyên gia có khả năng dẫn dắt trong các ngành công nghệ mới (AI, vi mạch, bán dẫn). Mức học bổng 15 triệu đồng/tháng cùng việc hỗ trợ 100% chi phí công bố quốc tế và thưởng cho bằng sáng chế được xem là “luồng gió mới” giúp nghiên cứu sinh yên tâm làm khoa học.

GS.TS Lê Anh Tuấn – Bí thư Đảng ủy Đại học Bách khoa Hà Nội, đánh giá, chính sách này có thể tạo ra tác động tích cực đối với chất lượng đào tạo tiến sĩ. Nghiên cứu sinh không chỉ tập trung vào các vấn đề học thuật thuần túy, mà còn hướng tới giải quyết những thách thức thực tiễn của Hà Nội. Điều này giúp nâng cao giá trị của các công trình nghiên cứu, góp phần thúc đẩy hoạt động khoa học công nghệ trong các trường đại học.

“Chương trình cũng tạo điều kiện để các trường mở rộng hợp tác quốc tế. Khi đề tài nghiên cứu có mục tiêu rõ ràng và gắn với các bài toán lớn của thành phố, nhà trường có thể thu hút thêm chuyên gia giỏi trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh. Đây cũng là yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ và thúc đẩy hệ sinh thái nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học”, GS.TS Lê Anh Tuấn nhấn mạnh.

GS.TS Hoàng Văn Cường - đại biểu Quốc hội TP Hà Nội, nhìn nhận, chủ trương của thành phố Hà Nội lần này mang tính chiến lược, là định hướng đúng và đáng trân trọng, bởi khi đó các công trình sau khi hoàn thành sẽ có điều kiện đóng góp trực tiếp cho quá trình hoạch định chính sách và giải quyết vấn đề thực tiễn của Thủ đô.

Tuy nhiên, cần nhận thức đúng bản chất của 1 luận án tiến sĩ là không thể giải quyết trọn vẹn “bài toán lớn”, mà chỉ xử lý một khía cạnh chuyên sâu trong tổng thể vấn đề. Những vấn đề tầm chiến lược của thành phố phải được tiếp cận bằng nhiều luận án kế tiếp nhau, mỗi luận án đảm nhiệm một mảng nghiên cứu cụ thể. Vì vậy, việc xác định chủ đề cần có sự điều phối ở tầm vĩ mô để phân chia các nhánh nghiên cứu và bảo đảm tính liên kết giữa các đề tài.

Một góc của Thủ đô Hà Nội. Ảnh: INT

Một góc của Thủ đô Hà Nội. Ảnh: INT

Công trình nghiên cứu phải thiết thực

Theo dự thảo, đề tài của nghiên cứu sinh phải gắn với các bài toán điểm nghẽn, bài toán lớn cụ thể; các chương trình nghiên cứu được công bố theo các quyết định của UBND thành phố hoặc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hà Nội. PGS.TS Đặng Thị Thanh Huyền - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý giáo dục (Học viện Quản lý Giáo dục) đánh giá cao chủ trương này của Hà Nội.

“Về bản chất, 1.000 hay 2.000 tiến sĩ chỉ là con số ước lượng. Cái chính là chất lượng của những công trình nghiên cứu, luận án của các nghiên cứu sinh cần mang hàm lượng chất xám và có thể áp dụng vào thực tiễn để giải quyết những bài toán, vấn đề vướng mắc của Thủ đô. Chúng ta cần chú trọng cả số lượng và chất lượng của lực lượng tiến sĩ để góp phần thiết thực vào sự phát triển ở các lĩnh vực của Thủ đô”, PGS.TS Đặng Thị Thanh Huyền khẳng định.

PGS.TS Trần Thu Hương cho biết, nếu tính giai đoạn từ 2026 - 2030 đào tạo 1.000 tiến sĩ, trung bình mỗi năm Hà Nội đào tạo khoảng 200 tiến sĩ. Thành phố cần phân bổ số lượng nghiên cứu sinh ở các lĩnh vực đào tạo dựa trên nhu cầu xã hội và vị trí việc làm để biết được chỉ tiêu ban đầu liệu có khả thi hay không. Các chuyên gia đề xuất chuyển từ “hỗ trợ đào tạo” sang “đặt hàng bài toán thực tiễn”.

Vị giảng viên cũng cho rằng, “trò khó thành tài nếu thầy không đủ giỏi”. Để đào tạo được 1.000 tiến sĩ đạt chuẩn (đặc biệt yêu cầu công bố bài báo quốc tế Q1, Q2), năng lực của các cơ sở giáo dục đại học và người hướng dẫn là yếu tố then chốt. Nếu không kiểm soát chặt, dễ dẫn đến tình trạng “lạm phát” bằng cấp nhưng thiếu giá trị thực.

“Các cơ chế hợp tác 3 bên gồm Hà Nội - nhà trường - doanh nghiệp cần được thúc đẩy song song với chương trình này; trong đó cần sớm triển khai chính sách hợp tác công tư mạnh mẽ nhằm xây dựng hoặc nâng cấp một số phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu hiện có của các đại học lên mức hiện đại và xây dựng các trung tâm chế thử liên ngành. Đây là cơ sở tạo dựng nền tảng đủ mạnh cho hoạt động nghiên cứu bao gồm thu hút chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu, hướng dẫn nghiên cứu sinh” - GS.TS Lê Anh Tuấn chia sẻ.

Đình Tuệ

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/dao-tao-1000-tien-si-cho-thu-do-khong-de-lam-phat-bang-cap-post771976.html