Đất lấn, chiếm được cấp sổ thì có được trừ diện tích đất đã được công nhận khi tính tiền sử dụng đất không?
Trường hợp người sử dụng đất đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích lấn, chiếm, nhưng trước đó đã được Nhà nước công nhận, giao đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất, liệu phần diện tích này có được giảm trừ khi xác định tiền sử dụng đất phải nộp không?
Hỏi:
Tại Điểm a Khoản 3 Điều 11 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP quy định về nội dung tính tiền sử dụng đất đối với diện tích đất được cấp GCN nằm trong hạn mức giao đất tại địa phương. Trên thực tế, có nhiều trường hợp người sử dụng đất đủ điều kiện được xem xét cấp GCN quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất lấn, chiếm theo Điểm a Khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024 nhưng trước khi đề nghị cấp GCN quyền sử dụng đất đối với phần đất vi phạm này, người sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất (hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất). Trong trường hợp này người sử dụng đất có bị giảm trừ phần diện tích đã được công nhận hoặc đã được giao đất hoặc đã nhận chuyển quyền đất được giao để xác định số tiền sử dụng đất phải nộp hay không?
Trả lời:
Theo nội dung câu hỏi, việc tính tiền sử dụng đất thuộc trường hợp được quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 11, Nghị định 103/2024/NĐ-CP; điểm a, khoản 3, Điều 139 Luật Đất đai năm 2024:
Điều 139 Luật Đất đai năm 2024: “Giải quyết đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2024”
Khoản 3. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do lấn đất, chiếm đất không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này và trường hợp sử dụng không đúng mục đích đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất thì xử lý như sau:
a) Trường hợp người đang sử dụng đất ổn định, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
Điều 11 Nghị định 103: “Tính tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 139 Luật Đất đai”
Khoản 3. Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận vào mục đích đất ở theo quy định tại điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai thì tiền sử dụng đất được tính như sau:
a) Đối với phần diện tích được cấp Giấy chứng nhận trong hạn mức đất ở theo quy định tại khoản 1 Điều 195, khoản 2 Điều 196 Luật Đất đai:
Tiền sử dụng đất = Diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận trong hạn mức giao đất ở × Giá đất ở quy định tại bảng giá đất × 30%
Theo quy định, việc xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai: Cơ quan Thuế tiếp nhận hồ sơ, Phiếu chuyển thông tin xác định nghĩa vụ tài chính bằng phương thức điện tử liên thông từ cơ quan quản lý đất đai làm căn cứ để xác định nghĩa vụ tài chính và ban hành thông báo nộp tiền gửi người nộp thuế và truyền trả thông báo sang cơ quan quản lý đất đai theo quy chế luân chuyển thông tin. Việc xác định vị trí, hạn mức và tính hợp pháp ... của thửa đất không thuộc thẩm quyền của cơ quan Thuế.
