Đầu tư cho phổ biến pháp luật phải hướng đến kết quả thực chất

Số lượng buổi tuyên truyền, lượng tài liệu phát hành hay số lượt người tham dự các hội nghị là những chỉ số thống kê cơ bản, cần thiết để đo lường quy mô của một chính sách. Tuy nhiên, những con số bề nổi ấy chưa đủ sức để phản ánh một sự thật quan trọng và sâu sắc hơn: người dân đã thực sự hiểu, biết vận dụng pháp luật và có đủ năng lực, sự tự tin để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chính mình hay chưa. Trong bối cảnh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền ngày càng hoàn thiện, hành trình đưa pháp luật vào đời sống, đặc biệt là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đòi hỏi một tư duy quản trị mới – nơi sự đầu tư không thể chỉ đo đếm bằng các chiến dịch truyền thông bề nổi, mà phải kết tinh thành những giá trị thụ hưởng thực chất.

Việc thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật ghi nhận nhiều kết quả tích cực - Ảnh: Ngân Hà

Việc thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật ghi nhận nhiều kết quả tích cực - Ảnh: Ngân Hà

Khoảng trống đằng sau những con số

Sau 13 năm bền bỉ thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, bức tranh toàn cảnh đã ghi nhận những nỗ lực không thể phủ nhận từ bộ máy nhà nước các cấp. Theo số liệu thống kê tại Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 của Bộ Tư pháp, cả nước đã tổ chức một khối lượng công việc đồ sộ: 3.602.879 cuộc phổ biến pháp luật trực tiếp, thu hút 492.668.870 lượt người tham dự; đồng thời phát hành tới 277.109.631 tài liệu phổ biến pháp luật. Trong số đó, có 1.978.186 tài liệu được biên soạn, dịch thuật công phu sang tiếng dân tộc thiểu số hoặc tiếng nước ngoài nhằm tiếp cận các nhóm đối tượng đặc thù.

Những con số này phản ánh quy mô triển khai rộng khắp, minh chứng cho sự quan tâm lớn của các cấp chính quyền. Tuy nhiên, nếu nhìn thẳng vào thực tiễn cơ sở, số lượt người tham dự không đồng nghĩa với số người đã nắm vững quy định. Một cuốn cẩm nang pháp luật được phát ra, dù được biên dịch kỹ lưỡng, cũng chưa cho biết người nhận có đọc, có hiểu và có thể sử dụng được những thông tin trong đó để giải quyết vướng mắc của mình hay không. Riêng với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hiệu quả của công tác tuyên truyền còn bị bủa vây bởi hàng loạt yếu tố đặc thù: khả năng sử dụng ngôn ngữ phổ thông, điều kiện tiếp cận thông tin hạn chế, nội dung được lựa chọn có sát với thực tiễn sinh kế hay không, và mức độ liên hệ của các quy định với những rắc rối pháp lý mà người dân đang phải gánh chịu.

Để tháo gỡ điểm nghẽn này, trong quản trị chương trình sử dụng nguồn lực công, hệ thống quản lý cần có sự phân biệt rạch ròi giữa nguồn lực đầu vào, sản phẩm trực tiếp và kết quả cuối cùng. Kinh phí ngân sách phân bổ, số lượng cán bộ tư pháp được huy động và thời gian tổ chức các hội nghị chính là đầu vào. Các buổi tuyên truyền, hàng vạn tờ rơi tài liệu hoặc các chương trình phát thanh trên loa xã chính là sản phẩm đầu ra. Thế nhưng, đích đến cuối cùng – kết quả thực sự cần hướng tới – phải là khả năng thấu hiểu và kỹ năng vận dụng pháp luật vào đời sống của người dân.

Cách tiếp cận lấy người dân làm trung tâm này đặt ra yêu cầu phải thiết kế lại cơ chế đánh giá công tác phổ biến, giáo dục pháp luật sát hơn với nhu cầu thực tế. Chẳng hạn, sau một đợt tuyên truyền rầm rộ về pháp luật đất đai, tiêu chí đánh giá không thể chỉ là biên bản hội nghị có bao nhiêu chữ ký. Thay vào đó, cần xem xét người dân có thực sự biết cơ quan nào tiếp nhận hồ sơ sang tên đổi chủ, cần chuẩn bị những loại giấy tờ chứng minh nào, và phải đi gõ cửa cơ quan nào khi ranh giới nương rẫy bị xâm lấn. Tương tự, với nội dung trợ giúp pháp lý, thành công chỉ được ghi nhận khi những người thuộc diện yếu thế nắm rõ quyền được Nhà nước bảo vệ miễn phí của mình, hiểu tường tận điều kiện thụ hưởng và ghi nhớ địa chỉ, phương thức liên hệ khẩn cấp khi vướng vào các tranh chấp pháp lý.

Ưu tiên đúng địa bàn, "đánh trúng" nhu cầu thực tiễn

Phổ biến pháp luật là một quá trình tương tác, góp phần tạo điều kiện, trao công cụ để người dân tự tin thực hiện quyền và nghĩa vụ chính đáng của mình - Ảnh: Ngân Hà

Phổ biến pháp luật là một quá trình tương tác, góp phần tạo điều kiện, trao công cụ để người dân tự tin thực hiện quyền và nghĩa vụ chính đáng của mình - Ảnh: Ngân Hà

Một chính sách chỉ phát huy hiệu quả khi dòng ngân sách được khơi thông và dồn đúng trọng điểm. Báo cáo của Bộ Tư pháp đã thẳng thắn nêu yêu cầu phải xây dựng cơ chế ngân sách, tài chính phù hợp với tính chất đặc thù của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; trong đó, phải chú trọng ưu tiên cho cơ sở, các địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa và tập trung giải quyết các vấn đề pháp luật cấp bách bám sát nhu cầu sinh kế của người dân hoặc yêu cầu quản lý nhà nước tại địa phương.

Sự phân bổ nguồn lực đòi hỏi tính linh hoạt và cá biệt hóa cao. Một địa bàn có đông đồng bào chưa thông thạo tiếng Việt bắt buộc phải được rót kinh phí để in ấn tài liệu song ngữ và bồi dưỡng những người truyền đạt am hiểu văn hóa, ngôn ngữ bản địa. Đối với những địa bàn miền núi chia cắt, giao thông trắc trở, việc dự toán phải tính toán đến chi phí đi lại, tổ chức trực tiếp tận thôn bản, thay vì chỉ dựa vào hình thức truyền thông trực tuyến vốn dĩ rất khó tiếp cận do hạ tầng mạng còn yếu kém.

Để đánh giá việc phân bổ nguồn lực có thực sự "đúng và trúng" hay không, cần có sự đối chiếu toàn diện giữa kế hoạch, dự toán, kinh phí thực hiện, sản phẩm đầu ra và những phản hồi thực tế từ phía người dân. Trong bối cảnh đó, việc các địa phương chủ động tháo gỡ cơ chế như Gia Lai ban hành Nghị quyết số 05/2025/NQ-HĐND hay Đắk Lắk ban hành Nghị quyết số 23/2025/NQ-HĐND quy định chi tiết mức chi ngân sách cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật là những điểm sáng đáng ghi nhận.

Đáng chú ý, thực tiễn sinh động tại Đắk Lắk trong năm 2026 đã minh chứng cho sự chuyển dịch mạnh mẽ từ "lượng" sang "chất", hướng thẳng pháp luật đến từng đối tượng cụ thể thay vì dàn trải. Hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2026, Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk đã ban hành kế hoạch với 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đặt mục tiêu "hướng mạnh về cơ sở" bằng các hoạt động thiết thực diễn ra trong tháng 10 và tháng 11/2026, hạn chế tính hình thức. Không còn bó hẹp trong không gian hội trường, công tác tuyên truyền đã linh hoạt len lỏi vào đời sống.

Từ những định hướng đó, trong tháng 10/2026, nhiều hoạt động "đánh trúng" nhu cầu như lực lượng quân đội, bộ đội biên phòng tỉnh Đắk Lắk  đã bám sát địa bàn, tuyên truyền pháp luật kết hợp bảo vệ chủ quyền cho 150 chủ phương tiện, tàu thuyền, ngư dân. Đặc biệt, việc đưa pháp luật về cơ sở giờ đây không diễn ra khô khan mà được Đội Tuyên truyền văn hóa cơ sở lồng ghép khéo léo vào các chương trình giao lưu văn nghệ, sinh hoạt dân vận, hay các đợt khánh thành trao tặng nhà "Đại đoàn kết" cho đồng bào vùng biên giới như tại xã Ea Bung, tổ chức đêm hội Trung thu cho trẻ em xã Ia Lốp... Những hành động cụ thể này đã xóa nhòa khoảng cách, giúp pháp luật không còn là những dòng chữ xa lạ, mà gắn liền với cuộc sống và sự chăm lo an sinh xã hội cho Nhân dân.

Phổ biến, giáo dục pháp luật chưa bao giờ chỉ là một hoạt động cung cấp thông tin đơn thuần từ phía cơ quan nhà nước. Sâu xa hơn, đó là một quá trình tương tác, góp phần tạo điều kiện, trao công cụ để người dân tự tin thực hiện quyền và nghĩa vụ chính đáng của mình. Vì thế, yêu cầu đặt ra cho giai đoạn mới không thể tiếp tục dừng lại ở sự thỏa mãn với câu hỏi: "Chúng ta đã tổ chức được bao nhiêu cuộc tuyên truyền?". Đã đến lúc, mọi hoạch định chính sách phải tiến tới trả lời bằng được câu hỏi cốt lõi: "Sự đầu tư nguồn lực này đã thực sự giúp người dân tiếp cận, tin tưởng và tự bảo vệ mình bằng pháp luật tốt hơn đến đâu?".

Nam Sơn

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/dau-tu-cho-pho-bien-phap-luat-phai-huong-den-ket-qua-thuc-chat