Đầu tư công: Tăng tốc giải ngân, tạo lực đẩy tăng trưởng
Đầu tư công tiếp tục là động lực quan trọng để hỗ trợ tăng trưởng năm 2026, nhưng yêu cầu đặt ra không chỉ là giải ngân nhanh hơn. Với quy mô ngày càng lớn, mỗi đồng vốn ngân sách cần được chuyển hóa thành hạ tầng, năng lực sản xuất và sức lan tỏa thực chất cho khu vực tư nhân. Vì vậy, tăng tốc giải ngân phải đi cùng kỷ luật thực thi, lựa chọn đúng dự án và đo lường hiệu quả đầu ra.
Từ động lực tăng trưởng đến phép thử kỷ luật thực thi
Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng năm 2026 được đặt ở mức rất cao, đầu tư công tiếp tục giữ vai trò một trong những động lực quan trọng nhất của tổng cầu trong nước. Khác với các nguồn lực chịu tác động mạnh từ biến động bên ngoài như xuất khẩu, dòng vốn quốc tế…, đầu tư công là công cụ chính sách mà Nhà nước có khả năng chủ động điều tiết, định hướng và tổ chức thực hiện. Khi được giải ngân đúng tiến độ, đúng trọng tâm, dòng vốn này sẽ giúp tạo thêm việc làm, kích hoạt nhu cầu vật liệu, xây dựng, vận tải, dịch vụ, góp phần mở rộng năng lực cung ứng của nền kinh tế.
Tuy nhiên, đầu tư công không thể chỉ được nhìn như một khoản chi để hỗ trợ tăng trưởng. Quy mô vốn càng lớn, yêu cầu về chất lượng phân bổ, chuẩn bị dự án, tổ chức thi công, giải phóng mặt bằng hay kiểm soát hiệu quả cũng ngày càng cao. Một dự án chậm tiến độ không chỉ làm “vốn nằm trên giấy”, mà còn kéo theo chi phí cơ hội rất lớn khi hạ tầng chưa hoàn thành, không gian phát triển mới chưa được mở ra, khu vực tư nhân chưa thấy tín hiệu đủ chắc chắn để mạnh dạn mở rộng đầu tư.
Số liệu mới nhất cho thấy áp lực này vẫn rất rõ. Theo số liệu của Bộ Tài chính, tổng kế hoạch giao năm 2026 đến thời điểm báo cáo, gồm kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng, là 1.026.979,5 tỷ đồng. Đến hết ngày 11/6/2026, số giải ngân từ đầu năm đạt 245.055,7 tỷ đồng, tương đương 24,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Nếu không tính phần 5% kế hoạch vốn đầu tư công ngân sách địa phương thực hiện tiết kiệm để dự kiến đầu tư cho đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, tỷ lệ giải ngân đạt 25%.
Đáng chú ý, vẫn còn 28 bộ, cơ quan và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới bình quân chung cả nước. Điều đó cho thấy bài toán lúc này không nằm ở quy mô vốn hay thiếu ngân sách, mà nằm nhiều hơn ở năng lực thực thi cụ thể của từng bộ, ngành, địa phương và từng dự án.
Chính vì vậy, tại Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2026 mới đây, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương, nhất là những đơn vị có tỷ lệ giải ngân dưới mức trung bình cả nước, khẩn trương tăng tốc, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm và là tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, cá nhân, trong đó có người đứng đầu. Cùng với đó là yêu cầu tập trung giải phóng mặt bằng, bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng, đẩy nhanh các dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông và các dự án hạ tầng chiến lược, nhưng phải bảo đảm chất lượng, tiến độ, hiệu quả đầu tư, không để thất thoát, lãng phí, tiêu cực.
Chấm điểm giải ngân để tăng trách nhiệm
Điểm mới đáng chú ý trong điều hành đầu tư công tới đây là việc đưa cơ chế chấm điểm giải ngân vào theo dõi, đánh giá các bộ, cơ quan trung ương và địa phương. Ngày 24/6 vừa qua, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã ký Quyết định số 1129/QĐ-TTg phê duyệt phương án chấm điểm về thực hiện giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công. Có thể nói, đây vừa là một công cụ kỹ thuật, vừa là bước chuyển về phương thức quản trị: từ đôn đốc chung sang đo lường cụ thể; từ nhắc nhở định tính sang đánh giá bằng dữ liệu; từ trách nhiệm chưa được lượng hóa đầy đủ sang trách nhiệm có thể so sánh.
Theo phương án này, mục tiêu chấm điểm là phản ánh kết quả thực hiện nhiệm vụ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công được giao, làm cơ sở thúc đẩy giải ngân. Kết quả chấm điểm cả năm là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công; đồng thời được sử dụng để các bộ, cơ quan trung ương và địa phương xây dựng tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng tập thể, cá nhân. Kết quả chấm điểm hằng tháng, hằng quý phục vụ biểu dương đơn vị giải ngân tốt và đôn đốc, nhắc nhở, cảnh báo đơn vị thực hiện chưa tốt.
Cách tiếp cận này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh giải ngân đầu tư công trong những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến tích cực song vẫn còn những điểm nghẽn cố hữu, lặp lại qua nhiều năm: thủ tục đầu tư kéo dài, phân bổ vốn chưa sát khả năng thực hiện, giải phóng mặt bằng chậm, vật liệu xây dựng thiếu cục bộ, năng lực nhà thầu không đồng đều, báo cáo tiến độ thiếu kịp thời. Như vậy, khi dữ liệu giải ngân được cập nhật định kỳ, so sánh với bình quân chung, so sánh với đăng ký giải ngân, gắn với chế độ báo cáo và “được chấm điểm”, áp lực thực thi với từng chủ thể (bộ, ngành, địa phương) sẽ rõ hơn.
Tuy vậy, cũng cần nhìn nhận đúng bản chất của “KPI” giải ngân đầu tư công. Chấm điểm không phải để thúc ép “tiêu tiền cho nhanh”, càng không phải để tạo áp lực hoàn tất thủ tục bằng mọi giá. Nếu chỉ chạy theo tỷ lệ giải ngân, rủi ro có thể chuyển từ chậm giải ngân sang giải ngân kém chất lượng, tăng nguy cơ điều chỉnh dự án, đội vốn, thất thoát hoặc công trình hoàn thành nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Vì vậy, “KPI” giải ngân cần đi cùng các thước đo về chất lượng chuẩn bị dự án, tiến độ hoàn thành thực tế, khả năng vận hành sau đầu tư và tác động lan tỏa đối với khu vực sản xuất, kinh doanh.
Hiệu quả lan tỏa là thước đo cuối cùng
Nếu phần đầu của bài toán đầu tư công là giải ngân, thì phần sau, quan trọng hơn, là hiệu quả lan tỏa. Trong một nền kinh tế đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao, đầu tư công cần được sử dụng như nguồn vốn dẫn dắt, vốn “mồi” để mở khóa các nguồn lực khác, nhất là khu vực tư nhân. Một tuyến đường, cây cầu, cảng biển, sân bay, tuyến đường sắt hay hệ thống điện được hoàn thành đúng tiến độ có thể rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics, mở thêm quỹ đất phát triển, kéo dòng vốn sản xuất, dịch vụ và đô thị hóa đi theo. Ngược lại, một dự án chậm trễ có thể làm đứt gãy chuỗi kỳ vọng đầu tư, kích hoạt tâm lý “chờ xem sao”, khiến vốn ngân sách chưa phát huy vai trò vốn mồi.
Ở góc độ dài hạn, đây cũng là yêu cầu để nâng cấp mô hình tăng trưởng. Ngân hàng Thế giới mới đây lưu ý rằng, triển vọng kinh tế Việt Nam còn tích cực nhưng rủi ro ngắn hạn gia tăng; đồng thời Việt Nam cần chuyển mô hình tăng trưởng từ mô hình tích lũy các yếu tố sản xuất và huy động vốn dựa vào ngân hàng sang tăng trưởng dựa trên năng suất, thị trường vốn sâu hơn và FDI chất lượng cao hơn. Nhìn từ khuyến nghị đó, đầu tư công không thể chỉ là kênh bổ sung tổng cầu, mà phải trở thành nền tảng nâng năng suất: hạ tầng tốt hơn, kết nối tốt hơn, logistics rẻ hơn, đô thị vận hành hiệu quả hơn và năng lực hấp thụ vốn cao hơn.

Tăng tốc giải ngân đầu tư công để tạo ra các công trình hạ tầng có khả năng lan tỏa
Vì vậy, khi bàn về giải ngân nhanh, không thể tách khỏi yêu cầu lựa chọn đúng dự án và khả năng phát huy hiệu quả. Vốn đầu tư công cần ưu tiên những công trình có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn, kết nối vùng, kết nối cảng biển, sân bay, khu công nghiệp, trung tâm logistics, vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ. Cùng một đồng vốn, tác động tăng trưởng sẽ rất khác nhau nếu được đặt vào dự án tạo nút kết nối chiến lược thay vì dự án phân tán, thiếu tính liên thông, lan tỏa hoặc khó khai thác sau đầu tư.
Đầu tư công trong năm 2026 và cả giai đoạn 2026 – 2030 vì vậy đang đứng trước yêu cầu kép. Một mặt, phải tăng tốc để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao, bù đắp những bất định từ bên ngoài và tạo thêm động lực cho tổng cầu trong nước. Mặt khác, càng tăng quy mô vốn, càng phải siết kỷ luật thực thi, minh bạch trách nhiệm và đo lường hiệu quả đầu ra. Điều quan trọng nhất không phải là “làm đẹp” tỷ lệ giải ngân, mà là rút ngắn khoảng cách giữa vốn được giao, vốn được giải ngân và năng lực phát triển được tạo ra.











