Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác hòa giải cơ sở
Dự thảo Luật bổ sung các quy định về khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hòa giải cơ sở theo hướng phù hợp với điều kiện thực tiễn như thực hiện bầu hòa giải viên, bầu Tổ trưởng Tổ hòa giải, cho phép thực hiện hòa giải trực tuyến khi các bên lựa chọn và đáp ứng điều kiện theo quy định.

Quốc hội họp tại hội trường, nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). (Ảnh: THỦY NGUYÊN)
Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, sáng 5/8, Quốc hội họp tại hội trường, nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).
Bổ sung một số quyền của hòa giải viên
Trình bày Tờ trình tóm tắt dự án Luật, Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) được xây dựng trên cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về tăng cường công tác hòa giải ngoài tòa án, Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp; tăng cường phân cấp, phân quyền, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hòa giải ở cơ sở; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật và khắc phục những hạn chế, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013.

Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình tóm tắt dự án Luật. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)
Dự thảo Luật gồm 5 Chương, 35 điều, trong đó tập trung sửa đổi, bổ sung một số nội dung cơ bản sau đây:
Cụ thể, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở theo hướng làm rõ mối quan hệ giữa hòa giải ở cơ sở với xử lý vi phạm hành chính, xử lý hình sự, tăng cường tính linh hoạt trong thực hiện hòa giải, bảo đảm quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết của các bên; hoàn thiện một số quy định khác nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất cho việc tổ chức thực hiện.
Về hòa giải viên và tổ hòa giải, dự thảo Luật tiếp tục hoàn thiện các quy định về tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải, tiêu chuẩn hòa giải viên; sửa đổi quy định về bầu hòa giải viên theo hướng linh hoạt, phù hợp với việc sắp xếp thôn, tổ dân phố; bổ sung cơ chế chỉ định hòa giải viên trong trường hợp đã tổ chức bầu nhưng không đạt yêu cầu hoặc không thể tổ chức bầu do sự kiện bất khả kháng. Bổ sung một số quyền của hòa giải viên nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Liên quan người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở, dự thảo Luật làm rõ phạm vi hình thức tham gia quyền nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở nhằm phát huy vai trò của già làng, trưởng bản chức sắc, chức việc, người có uy tín trong cộng đồng, người có kiến thức pháp luật, chuyên môn, kinh nghiệm, đại diện các tổ chức chính trị- xã hội và các cá nhân có liên quan trong việc hỗ trợ hòa giải viên góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hòa giải viên ở cơ sở.
Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho hay, hoạt động hòa giải ở cơ sở bắt nguồn từ sự tương thân, tương ái trong cộng đồng dân cư. Do đó, việc hòa giải được thực hiện chủ yếu thông qua gặp gỡ trực tiếp để tạo sự thấu hiểu, làm phương thức được ưu tiên và mang lại hiệu quả cao. Để đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ thông tin như hiện nay, dự thảo Luật bổ sung các quy định về khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hòa giải cơ sở theo hướng phù hợp với điều kiện thực tiễn như thực hiện bầu hòa giải viên, bầu Tổ trưởng Tổ hòa giải, cho phép thực hiện hòa giải trực tuyến khi các bên lựa chọn và đáp ứng điều kiện theo quy định.
Nghiên cứu chính sách đặc thù đối với hòa giải ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Nêu quan điểm thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh nêu rõ, Ủy ban tán thành việc sửa đổi toàn diện Luật Hòa giải ở cơ sở như đề nghị của Chính phủ. Tuy nhiên, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo quan tâm hơn đến nguồn lực phát triển hạ tầng kỹ thuật số để vận hành hệ thống hòa giải trực tuyến và đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở. Trong quá trình thực hiện, cần quan tâm đến các đối tượng phụ nữ, trẻ em, người bị bạo lực gia đình, người khuyết tật, người cao tuổi, người nghèo, người thuộc diện trợ giúp xã hội, người dân tộc thiểu số hoặc các nhóm dễ bị tổn thương khác.
Tán thành quy định về chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở (Điều 5), tuy nhiên, Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị nghiên cứu quy định Nhà nước có chính sách đặc thù đối với hòa giải ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và giao Chính phủ quy định chi tiết.

Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày báo cáo thẩm tra dự án Luật. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)
Ủy ban Văn hóa và Xã hội tán thành việc bổ sung cơ chế chỉ định hòa giải viên là cần thiết, nhất là trong trường hợp cần bảo đảm thành phần giới và dân tộc thiểu số; thống nhất với quy định tại dự thảo Luật về công nhận hòa giải viên, trong đó có quy định thời hạn công nhận hòa giải viên là 3 năm.
Để thu hút người có hiểu biết về pháp luật như luật sư, luật gia, người có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực pháp luật tham gia tư vấn, hỗ trợ cho hòa giải viên, Ủy ban đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo quy định chính sách thù lao tương xứng cho người được mời tham gia hòa giải cả trong trường hợp tư vấn, hỗ trợ cho hòa giải viên và trực tiếp tham gia hòa giải ở cơ sở.
Cơ bản thống nhất với quy định của dự thảo Luật về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác hòa giải ở cơ sở (Điều 32); tuy nhiên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng, việc giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trách nhiệm biên soạn tài liệu về hòa giải ở cơ sở để thực hiện trên địa bàn có thể dẫn đến việc tổ chức thực hiện thiếu thống nhất giữa các tỉnh, thành phố, gây lãng phí nguồn lực kinh phí, nhân lực, thời gian; nếu thực hiện phương án giao cho cơ quan quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở cấp Trung ương thì sẽ bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm hơn và bảo đảm thống nhất trong cả nước; căn cứ vào điều kiện cụ thể ở địa phương các tỉnh có thể nghiên cứu, bổ sung nếu cần thiết.











