Để biển trở thành không gian phát triển chiến lược của quốc gia
Từ quy hoạch không gian biển, xây dựng dữ liệu số, ứng dụng công nghệ đến hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, yêu cầu đặt ra không phải khai thác nhiều hơn mà là quản trị hiệu quả hơn, để biển trở thành không gian phát triển chiến lược quốc gia.
Khi Trung ương ban hành Nghị quyết 36 vào năm 2018, mục tiêu được đặt ra rất rõ ràng: Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Điều đáng chú ý là nghị quyết này không chỉ nói về thủy sản, du lịch hay dầu khí. Ngay từ thời điểm đó, Trung ương đã đặt ra những mục tiêu rất hiện đại về quản trị biển, dữ liệu biển quốc gia, khoa học công nghệ biển và phát triển bền vững dựa trên hệ sinh thái.
Có thể nói, Nghị quyết 36 là một văn kiện không thiếu khát vọng và cũng không thiếu tầm nhìn về tương lai của kinh tế biển Việt Nam.
Sau gần 8 năm thực hiện, nhiều kết quả quan trọng đã đạt được. Tuy nhiên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thẳng thắn nhìn nhận rằng kinh tế biển vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của đất nước.
Điều đáng suy nghĩ không nằm ở chỗ Việt Nam có bao nhiêu tiềm năng biển, mà ở chỗ sau gần một thập kỷ, chúng ta vẫn chưa chuyển hóa được những lợi thế ấy thành động lực phát triển tương xứng.

Trong tư duy mới về biển, phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc không phải hai nhiệm vụ tách biệt mà là hai mặt của cùng một chiến lược phát triển. Ảnh: Hoàng Hà
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghề cá Việt Nam, cho rằng điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở chủ trương mà nằm ở tổ chức thực hiện.
Theo ông, nhiều nơi vẫn "biết mục tiêu nhưng chưa xác định rõ con đường để đi tới mục tiêu đó".
Nhận xét ấy có lẽ đã chạm đúng điểm nghẽn lớn nhất của quá trình thực hiện Nghị quyết 36 trong gần một thập kỷ qua.
Nghị quyết đã xác định khá rõ những đột phá về thể chế, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực và hạ tầng. Nhưng việc chuyển hóa những định hướng ấy thành các chương trình hành động, các dự án động lực và những mô hình phát triển cụ thể vẫn còn chậm.
Thậm chí, ngay trong cách tiếp cận kinh tế biển cũng chưa thật sự thống nhất.
Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, ở nhiều nơi, tiềm năng biển vẫn được nhìn nhận khá chung chung. Trong khi đó, những lợi thế cạnh tranh thực sự, những không gian phát triển mới và cơ chế phối hợp giữa các ngành, các địa phương lại chưa được xác định rõ.
Hệ quả là không ít khu vực biển cùng lúc phải gánh nhiều mục tiêu khác nhau, từ nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch đến bảo tồn sinh thái.
Suy cho cùng, đó chính là bài toán quản trị mà chúng ta vẫn đang tìm lời giải đủ hiệu quả trong suốt thời gian qua.
Có lẽ vì vậy mà trong cuộc làm việc mới đây về tổng kết Nghị quyết 36, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một yêu cầu rất đáng chú ý: Chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia.
Việc thay đổi cách diễn đạt này thực chất phản ánh một sự thay đổi sâu hơn trong cách nhìn nhận vai trò của biển đối với tương lai phát triển đất nước.
Trong một thời gian dài, biển thường được nhìn chủ yếu dưới góc độ các ngành kinh tế cụ thể như thủy sản, du lịch, vận tải biển hay dầu khí.
Cách tiếp cận đó không sai, nhưng rõ ràng đã không còn đủ để đáp ứng những yêu cầu phát triển mới đang đặt ra.
Bởi theo cách tiếp cận mới, biển không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế mà phải được xác định là không gian phát triển chiến lược của quốc gia, nơi hội tụ các lợi ích về phát triển, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế.
Nếu coi biển là nguồn tài nguyên, trọng tâm sẽ là khai thác. Nếu coi biển là không gian phát triển chiến lược, trọng tâm sẽ là quản trị.
Và chính sự khác biệt trong tư duy đó tạo ra cách tiếp cận hoàn toàn khác đối với phát triển biển trong giai đoạn tới.
Điều đáng chú ý là những yếu tố cốt lõi của quản trị biển hiện đại thực ra đã xuất hiện từ Nghị quyết 36 cách đây gần một thập kỷ.
Nghị quyết đặt mục tiêu quản trị biển theo chuẩn mực quốc tế. Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa về biển, đảo. Ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong quan trắc, dự báo và quản lý biển.
Nhưng như phân tích của PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, nhiều phương thức quản lý hiện đại như quản lý tổng hợp biển và vùng bờ hay quản lý theo không gian dựa trên hệ sinh thái vẫn chưa được triển khai hiệu quả.
Chính khoảng cách giữa tư duy và thực thi ấy khiến tiềm năng biển vẫn chưa tạo ra được những giá trị tương xứng với kỳ vọng đặt ra.
Có lẽ đó cũng là lý do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh đến dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số đại dương, trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển và quy hoạch không gian biển quốc gia.
Dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số đại dương hay trí tuệ nhân tạo không chỉ là những khái niệm công nghệ, mà đang trở thành các công cụ cốt lõi để quản trị biển dựa trên dữ liệu và khoa học.
Một điểm rất đáng chú ý khác là vai trò mới mà biển được giao phó.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị đặt biển vào vị trí một trong những động lực phát triển chiến lược trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV.
Điều đó cho thấy vai trò của biển trong chiến lược phát triển quốc gia đang được nâng lên một cấp độ hoàn toàn mới.
Thay vì chỉ là nơi tạo ra giá trị cho một số ngành kinh tế, biển đang được kỳ vọng trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng quốc gia trong những thập niên tới.
Đồng thời, mọi quy hoạch, chiến lược và chương trình phát triển biển phải phục vụ cả yêu cầu bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia.
Cách tiếp cận này cho thấy phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền đang được đặt trong cùng một chỉnh thể chiến lược.
Trong tư duy mới về biển, phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc không phải hai nhiệm vụ tách biệt mà là hai mặt của cùng một chiến lược phát triển.
Bởi vậy, câu hỏi lớn nhất của nghị quyết mới có lẽ không còn là phát triển thêm ngành kinh tế biển nào, mà câu hỏi lớn hơn là làm thế nào để biển thực sự trở thành không gian phát triển chiến lược của quốc gia.
Như nhận xét của PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, nhận thức về phát triển bền vững kinh tế biển đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng việc chuyển hóa nhận thức ấy thành hành động cụ thể và những lợi ích kinh tế rõ ràng vẫn còn khoảng cách.
Sau gần một thập kỷ thực hiện Nghị quyết 36, điều còn thiếu không phải là nhận diện tiềm năng mà là năng lực tổ chức thực hiện và năng lực quản trị đủ mạnh để chuyển hóa tiềm năng ấy thành sức mạnh phát triển thực sự.
Biển vẫn hiện hữu, mang trong mình những lợi thế quý giá mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng. Câu hỏi còn lại là chúng ta có đủ năng lực để biến những lợi thế ấy thành một phần của tương lai phát triển đất nước hay không.










