Để công nghệ chắp cánh cho bản sắc

Trong dòng chảy mạnh mẽ của công nghệ và trí tuệ nhân tạo, giáo dục nghệ thuật càng cần trở về với cội nguồn văn hóa để mở lối cho sáng tạo. Khi di sản bước vào học đường, được đánh thức bằng trải nghiệm, công nghệ và sự dẫn dắt của nghệ nhân, nghệ sĩ, truyền thống sẽ không chỉ được gìn giữ mà còn tiếp tục sinh thành những giá trị mới trong tâm hồn thế hệ trẻ.

Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang mở ra những khả năng chưa từng có đối với sáng tạo nghệ thuật. Chỉ bằng một vài câu lệnh, người học có thể tạo hình ảnh, mô phỏng phong cách, phục dựng không gian văn hóa hoặc tiếp cận kho dữ liệu khổng lồ của nhân loại. Nhưng càng đứng trước một không gian sáng tạo rộng lớn, giáo dục càng phải trả lời một câu hỏi căn bản: Người học sẽ sáng tạo từ nền tảng nào và mang theo bản sắc gì?

Đó cũng là vấn đề trọng tâm được đặt ra tại Hội thảo khoa học quốc gia "Đổi mới giáo dục nghệ thuật ở Việt Nam: Phát triển năng lực sáng tạo, phát huy giá trị truyền thống và thích ứng chuyển đổi số", do Khoa Nghệ thuật, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức ngày 22/8.

1 / 6

Hội thảo có gần 80 báo cáo tham luận được tuyển chọn, tập trung vào 3 chủ đề: bảo tồn, tích hợp di sản văn hóa nghệ thuật truyền thống trong giáo dục; ứng dụng công nghệ số, AI và đổi mới phương pháp dạy học; phát triển năng lực nghề nghiệp, mô hình kết nối và xã hội hóa giáo dục nghệ thuật.

2 / 6

Hội thảo có gần 80 báo cáo tham luận được tuyển chọn, tập trung vào 3 chủ đề: bảo tồn, tích hợp di sản văn hóa nghệ thuật truyền thống trong giáo dục; ứng dụng công nghệ số, AI và đổi mới phương pháp dạy học; phát triển năng lực nghề nghiệp, mô hình kết nối và xã hội hóa giáo dục nghệ thuật.

3 / 6

Các tham luận, thảo luận tại hội thảo tập trung vào những vấn đề như xây dựng quy trình sư phạm hóa di sản truyền thống; cơ chế đưa nghệ nhân, nghệ sĩ vào giảng dạy; đồng thời xác định cách thức ứng dụng AI và công nghệ số trong giáo dục nghệ thuật mà vẫn bảo đảm yếu tố cảm xúc, giá trị nhân văn và bản sắc dân tộc.

4 / 6

Đại biểu dự hội thảo.

5 / 6

PGS.TS Nguyễn Đức Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nhấn mạnh, vai trò của giáo dục thẩm mỹ và nghệ thuật trong việc hình thành phẩm chất, giá trị của con người, đặc biệt trong bối cảnh AI phát triển mạnh mẽ.

6 / 6

Đại biểu dự hội thảo.

1 / 6

Hội thảo có gần 80 báo cáo tham luận được tuyển chọn, tập trung vào 3 chủ đề: bảo tồn, tích hợp di sản văn hóa nghệ thuật truyền thống trong giáo dục; ứng dụng công nghệ số, AI và đổi mới phương pháp dạy học; phát triển năng lực nghề nghiệp, mô hình kết nối và xã hội hóa giáo dục nghệ thuật

Trong khuôn khổ chuỗi hoạt động kỷ niệm 25 năm thành lập Khoa Nghệ thuật, ngày 22/8/2026, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức Hội thảo Khoa học Quốc gia với chủ đề: “Đổi mới giáo dục nghệ thuật ở Việt Nam: Phát triển năng lực sáng tạo, phát huy giá trị truyền thống và thích ứng chuyển đổi số”. Ảnh: THANH TÙNG - TTXVN

Với 76 báo cáo được tuyển chọn từ các nhà khoa học, giảng viên và giáo viên nghệ thuật trên cả nước, hội thảo không chỉ phản ánh nhu cầu đổi mới đang hiện hữu trong từng cơ sở đào tạo, từng cấp học, mà còn cho thấy giáo dục nghệ thuật cần được nhìn nhận bằng một cách tiếp cận có tính hệ thống.

Bởi giáo dục nghệ thuật không đơn thuần là dạy người học vẽ một bức tranh, hát một bài hát hay sử dụng thành thạo một công cụ sáng tạo. Sâu xa hơn, đó là quá trình nuôi dưỡng năng lực cảm thụ, trí tưởng tượng, khả năng biểu đạt và sự tinh tế trong tâm hồn. Nghệ thuật giúp con người biết rung động trước cái đẹp, biết tôn trọng sự khác biệt và biết nhìn thế giới bằng ánh mắt nhân văn.

1 / 14

Cô giáo Trường THCS Kim Đức tận tình hướng dẫn từng động tác, nhịp phách Hát Xoan cho học sinh, góp phần gieo mầm tình yêu di sản trong thế hệ trẻ.

2 / 14

Dưới sự hướng dẫn của các nghệ nhân, lớp học tại Trường Tiểu học Hùng Lô trở thành không gian di sản, nơi học sinh tiếp nhận và cảm thụ văn hóa cội nguồn.

3 / 14

Học sinh Trường Tiểu học Gia Cẩm hào hứng thực hành các động tác múa, nhịp phách hát Xoan trong giờ học trải nghiệm văn hóa truyền thống.

4 / 14

Sự chăm chút từ chiếc khăn mỏ quạ đến tà áo Xoan thể hiện nỗ lực gìn giữ và truyền trao nét đẹp văn hóa truyền thống cho thế hệ nhỏ tuổi.

5 / 14

Học sinh Trường Tiểu học Gia Cẩm tham gia hoạt động trải nghiệm hát Xoan trong sân trường, góp phần lan tỏa tình yêu di sản văn hóa Đất Tổ đến thế hệ trẻ.

6 / 14

Vẻ đẹp của di sản được trao truyền qua từng động tác múa, tiếp nối trong ánh mắt say mê của học trò.

7 / 14

Trong lớp học Trường Tiểu học Hùng Lô, dưới nhịp trống Xoan rộn ràng, nghệ nhân cùng cô giáo hướng dẫn học sinh tham gia buổi truyền dạy hát Xoan, tạo nên không khí sinh động của di sản trong học đường.

8 / 14

Trong nhịp trống Xoan rộn ràng, học sinh Trường Tiểu học Hùng Lô say mê hòa mình vào không gian âm nhạc truyền thống.

9 / 14

Những làn điệu hát Xoan vang lên trong lớp học, nơi cô và trò Trường THCS Kim Đức cùng gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống Phú Thọ.

10 / 14

Sự đồng hành giữa nhà trường và các nghệ nhân đã đưa những làn điệu hát Xoan đến gần hơn với học sinh bằng những tiết học sinh động, giàu cảm hứng và đậm hồn di sản.

11 / 14

Qua từng lời hát, điệu múa uyển chuyển của nghệ nhân, tinh hoa hát Xoan được trao truyền cho thế hệ học sinh tiếp nối hành trình gìn giữ hồn di sản.

12 / 14

Các nghệ nhân hát Xoan hướng dẫn học sinh biểu diễn tiết mục “Mó cá” trên sân khấu, góp phần lan tỏa di sản văn hóa Đất Tổ đến thế hệ trẻ.

13 / 14

Nụ cười hồn nhiên của học sinh trong tiết mục “Mó cá” góp phần làm bừng sáng không khí hát Xoan trong không gian học đường.

14 / 14

Qua từng động tác uyển chuyển của học sinh Trường Tiểu học Hùng Lô, hát Xoan đang được tiếp nối bằng tình yêu và niềm tự hào với di sản quê hương Đất Tổ.

1 / 14

Cô giáo Trường THCS Kim Đức tận tình hướng dẫn từng động tác, nhịp phách Hát Xoan cho học sinh, góp phần gieo mầm tình yêu di sản trong thế hệ trẻ.

Giữa dòng chảy của nhịp sống hiện đại, hát Xoan vẫn ngân vang trong không gian học đường Phú Thọ, trở thành nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại. Từ lớp học, sân trường đến các câu lạc bộ, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại đang đến gần hơn với thế hệ trẻ một cách tự nhiên, giàu sức lan tỏa. Đến nay, hát Xoan đã trở thành một phần bền vững trong đời sống giáo dục tỉnh Phú Thọ, khi 100% trường tiểu học và trung học cơ sở đã đưa nội dung này vào chương trình giáo dục địa phương. Toàn tỉnh hiện duy trì hàng chục câu lạc bộ hát Xoan cấp trường, thu hút đông đảo học sinh tham gia, tạo nên những không gian sinh hoạt văn hóa đậm sắc màu Đất Tổ, nơi di sản được “sống” cùng tuổi thơ học trò. Không chỉ dừng ở không gian học đường, Phú Thọ thúc đẩy số hóa di sản hát Xoan, xây dựng kho dữ liệu điện tử và hệ thống bài giảng số, mở rộng cách tiếp cận trong thời đại công nghệ, góp phần để những câu Xoan cổ tiếp tục ngân vang trong đời sống hôm nay và mai sau. Ảnh: HOÀNG HÙNG - TTXVN

Trong kỷ nguyên số, vai trò ấy càng trở nên quan trọng. Khi các sản phẩm, xu hướng và phương thức biểu đạt nghệ thuật liên tục dịch chuyển trên môi trường mạng, người học có thể dễ dàng tiếp cận nhiều nền văn hóa, nhưng cũng có nguy cơ bị cuốn vào những trào lưu nhất thời, những khuôn mẫu được tạo ra và lặp lại bởi thuật toán. Nếu thiếu một nền tảng văn hóa đủ sâu, sự phong phú của công nghệ có thể không dẫn tới sáng tạo mà chỉ tạo ra những sản phẩm vay mượn, pha trộn và thiếu căn cước.

Vì thế, đổi mới giáo dục nghệ thuật trước hết không phải là cuộc chạy đua về thiết bị hay phần mềm. Đó phải là quá trình đưa các giá trị nghệ thuật truyền thống vào nhà trường một cách bài bản, phù hợp với từng cấp học; đồng thời kết nối người học với nghệ nhân, nghệ sĩ, không gian di sản và cộng đồng thực hành văn hóa.

Các chủ trương mới về phát triển văn hóa và giáo dục đang mở ra điều kiện thuận lợi cho quá trình ấy khi tiếp tục xác định con người và văn hóa là trung tâm, khuyến khích sự tham gia của nghệ nhân, nghệ sĩ, chuyên gia vào hoạt động giáo dục. Đây là cơ sở quan trọng để từng bước hình thành một mô hình giáo dục mở, trong đó nhà trường không đứng tách biệt mà trở thành một phần của đời sống văn hóa cộng đồng.

Tuy nhiên, từ chủ trương đến thực tiễn vẫn còn một khoảng cách đáng kể. Theo TS Trần Thị Thu Hà, Trưởng khoa Nghệ thuật, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, việc đưa di sản nghệ thuật vào trường học hiện còn phân mảnh, phần lớn dừng ở những chương trình trải nghiệm đơn lẻ. Nhiều hoạt động mới giúp học sinh "xem" hoặc "biết" về di sản, nhưng chưa tạo điều kiện để các em thực hành, đối thoại và sáng tạo cùng di sản.

1 / 7

Du khách quét QR để tìm hiểu thông tin tại Nhà trưng bày thân thế, sự nghiệp Chủ tịch Tôn Đức Thắng, nằm trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thuộc xã Mỹ Hoà Hưng, tỉnh An Giang.

2 / 7

Du khách quét QR để tìm hiểu thông tin về cuộc đời Bác Tôn và giá trị của Di tích Quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng (thuộc xã Mỹ Hoà Hưng, tỉnh An Giang).

3 / 7

Mã QR được đặt tại Nhà trưng bày thân thế, sự nghiệp Chủ tịch Tôn Đức Thắng, nằm trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng (xã Mỹ Hoà Hưng, tỉnh An Giang) giúp người dân và du khách thuận tiện tra cứu tìm hiểu thông tin.

4 / 7

Nhờ công nghệ số, hình ảnh về Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam (phường Vĩnh Tế, tỉnh An Giang) được cộng đồng trong và ngoài nước biết đến rộng rãi hơn.

5 / 7

Du khách tìm hiểu thông tin tại Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thuộc xã Mỹ Hoà Hưng, tỉnh An Giang.

6 / 7

Du khách trải nghiệm thuyết minh nhóm và thuyết minh tự động tại Nhà trưng bày thân thế, sự nghiệp Chủ tịch Tôn Đức Thắng, nằm trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thuộc xã Mỹ Hoà Hưng, tỉnh An Giang.

7 / 7

Học sinh trên địa bàn phường Long Xuyên (An Giang) trải nghiệm thuyết minh nhóm và thuyết minh tự động tại Nhà trưng bày thân thế, sự nghiệp Chủ tịch Tôn Đức Thắng, nằm trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thuộc xã Mỹ Hoà Hưng, tỉnh An Giang.

1 / 7

Du khách quét QR để tìm hiểu thông tin tại Nhà trưng bày thân thế, sự nghiệp Chủ tịch Tôn Đức Thắng, nằm trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thuộc xã Mỹ Hoà Hưng, tỉnh An Giang.

Tỉnh An Giang có hệ thống di tích và nhiều lễ hội truyền thống. Đây là “chìa khóa vàng” để phát triển du lịch văn hóa. Thời gian qua, tỉnh đã số hóa di sản, tạo nên một hệ sinh thái du lịch đa diện, tạo điều kiện để phát triển du lịch và thuận lợi cho việc tìm hiểu thông tin về di tích cho du khách. Ảnh: CÔNG MẠO - TTXVN

Khoảng trống ấy còn hiện rõ trong điều kiện giảng dạy. Khảo sát 50 giáo viên Mỹ thuật tại một số địa phương cho thấy, dù tất cả giáo viên đều được đào tạo đúng chuyên môn, có tới 82% phải kiêm nhiệm công việc ngoài ngành và 80% phải đảm nhận thêm việc trang trí sân khấu, thiết kế hình ảnh cho các sự kiện của trường. Có 84% trường thiếu phòng học chuyên biệt, 68% học sinh thiếu họa phẩm do hoàn cảnh khó khăn, trong khi quan niệm coi Mỹ thuật là "môn phụ" vẫn tồn tại ở một bộ phận phụ huynh.

Những con số ấy cho thấy một nghịch lý: chúng ta kỳ vọng giáo dục nghệ thuật phát triển năng lực sáng tạo, nhưng người dạy lại thiếu thời gian chuyên môn, người học thiếu điều kiện thực hành và môn học chưa được nhìn nhận đúng vị trí.

Công nghệ là phương tiện, di sản là cốt lõi

Chuyển đổi số trong giáo dục nghệ thuật không thể chỉ được đo bằng số lượng thiết bị hay phần mềm được sử dụng. Công nghệ và AI cần đóng vai trò mở rộng không gian trải nghiệm, hỗ trợ sáng tạo; còn di sản văn hóa phải là nền tảng giúp người học nhận diện căn cước, nuôi dưỡng cảm xúc và hình thành bản lĩnh văn hóa.

Trong hoàn cảnh đó, chuyển đổi số không thể được đo bằng số thiết bị, phần mềm hay những bài trình chiếu xuất hiện trong lớp học. Nếu phương pháp dạy học không thay đổi, điều kiện thực hành không được cải thiện và năng lực giáo viên chưa được bồi dưỡng, công nghệ rất dễ chỉ trở thành một lớp vỏ mới phủ lên cách dạy cũ.

Nguyên tắc "công nghệ là phương tiện, di sản là nội dung cốt lõi" vì thế mang ý nghĩa định hướng quan trọng. Công nghệ có thể mở rộng lớp học, đưa học sinh đến gần hơn với những công trình, hiện vật và loại hình nghệ thuật mà điều kiện địa lý không cho phép tiếp cận trực tiếp. AI có thể hỗ trợ tìm kiếm dữ liệu, nhận diện tạo hình, phục dựng hình ảnh, mô phỏng phong cách và khơi gợi ý tưởng. Nhưng công nghệ không thể thay thế trải nghiệm sống, sự truyền nghề và chiều sâu văn hóa được hình thành qua tiếp xúc giữa con người với con người.

1 / 9

Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ cũng thu hẹp khoảng cách với Gen Z bằng việc đẩy mạnh quảng bá trên các trang Fanpage và xây dựng kênh TikTok.

2 / 9

Các bảo tàng đã triển khai hàng loạt giải pháp công nghệ tích cực như số hóa 3D và trải nghiệm thực tế ảo (VR) để phục vụ công chúng.

3 / 9

Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh chuẩn bị ra mắt một không gian văn hóa độc đáo nhằm tăng trải nghiệm cho du khách vào ban đêm.

4 / 9

Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ đã phối hợp với các đơn vị chuyên môn thực hiện quét và số hóa hơn 1.000 hiện vật để trình chiếu trên công nghệ Hologram.

5 / 9

Sự dịch chuyển các bảo tàng từ những “kho lưu trữ tĩnh” thành “không gian trải nghiệm sống động”, đóng vai trò động lực cho công nghiệp văn hóa.

6 / 9

Nhờ tăng cường dịch vụ trải nghiệm và sự “nhập vai” của công nghệ, lượng khách đến bảo tàng trong năm 2026 tăng trưởng mạnh mẽ.

7 / 9

Du khách trải nghiệm công nghệ thực tế ảo (VR) tại Bảo tàng Chứng tính Chiến tranh.

8 / 9

Những đoạn phim ngắn với thời lượng từ 30 đến 60 giây giới thiệu súc tích, độc đáo về từng câu chuyện hiện vật, từng nội dung lịch sử đã kích thích sự tò mò, để cho giới trẻ chủ động tìm đến bảo tàng.

9 / 9

Đây là cách lan tỏa tình yêu hòa bình được nhiều du khách hưởng ứng.

1 / 9

Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ cũng thu hẹp khoảng cách với Gen Z bằng việc đẩy mạnh quảng bá trên các trang Fanpage và xây dựng kênh TikTok.

Thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai chiến lược xoay trục toàn diện hệ thống thiết chế bảo tàng. Từ bỏ tư duy “khép kín” của những kho lưu trữ truyền thống, “siêu đô thị” phương Nam đang hướng tới kiến tạo một “hệ sinh thái di sản sống” gắn với công nghệ số, biến tài nguyên ký ức thành động lực mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa phát triển bền vững. Ảnh: HỮU DUYÊN - TTXVN

Một học sinh có thể dùng AI để mô phỏng hoa văn truyền thống, nhưng để hiểu hoa văn ấy sinh ra từ cộng đồng nào, gắn với tín ngưỡng, phong tục và quan niệm thẩm mỹ ra sao, các em vẫn cần sự hướng dẫn của giáo viên, nghệ nhân và người nắm giữ di sản. Nếu tách biểu tượng khỏi bối cảnh văn hóa, công nghệ có thể tạo ra những hình ảnh đẹp về thị giác nhưng sai lệch về ý nghĩa.

Vấn đề, do đó, không phải lựa chọn giữa công nghệ và truyền thống, mà là xác lập đúng vai trò của mỗi yếu tố. Truyền thống không phải chiếc neo giữ con người ở lại quá khứ; đó là điểm tựa để sáng tạo và đi xa hơn. Công nghệ cũng không phải đích đến; đó là đôi cánh giúp những giá trị văn hóa được tiếp cận, thể hiện và lan tỏa bằng ngôn ngữ mới.

Đưa nghệ thuật từ cộng đồng vào nhà trường

Giáo dục nghệ thuật chỉ có thể đổi mới thực chất khi hình thành được sự kết nối bền vững giữa nhà trường, giáo viên, nghệ nhân, nghệ sĩ và cộng đồng. Di sản cần được tích hợp bài bản vào chương trình, gắn với thực hành và trải nghiệm trực tiếp, để truyền thống không chỉ được gìn giữ mà còn trở thành nguồn cảm hứng cho sáng tạo trong thời đại số.

Mô hình đồng sáng tạo giữa con người và AI được đề xuất tại hội thảo - từ khám phá di sản, thực hành truyền thống, thử nghiệm với AI đến đánh giá, sáng tạo lại, phản biện và công bố - là một gợi mở đáng chú ý. Ở đó, con người vẫn giữ vai trò trung tâm; dữ liệu phải được kiểm chứng; công cụ cần được sử dụng minh bạch; bản quyền phải được tôn trọng; thực hành thủ công và trải nghiệm trực tiếp vẫn cần được duy trì.

Để những định hướng ấy đi vào đời sống, giáo dục nghệ thuật cần một hệ sinh thái đồng bộ. Di sản phải được tích hợp phù hợp vào chương trình thay vì chỉ xuất hiện trong các hoạt động ngoại khóa. Giáo viên phải được bảo đảm điều kiện làm nghề, được bồi dưỡng cả về công nghệ, phương pháp sáng tạo và kiến thức văn hóa. Nghệ nhân, nghệ sĩ cần có cơ chế tham gia lâu dài, không chỉ xuất hiện trong những sự kiện mang tính trình diễn. Nhà trường phải được kết nối với bảo tàng, nhà hát, làng nghề, không gian sáng tạo và cộng đồng thực hành di sản.

1 / 23

Hoạt động trải nghiệm thu hút đông đảo người trẻ tham gia, góp phần đưa di sản tiếp cận gần hơn với thế hệ mới.

2 / 23

Bạn trẻ tham gia trải nghiệm chế tác, góp phần gìn giữ và tiếp nối giá trị của nghề truyền thống trong đời sống hiện đại.

3 / 23

Tác phẩm điêu khắc sơn ta với họa tiết truyền thống được trưng bày tại không gian triển lãm.

4 / 23

Các dụng cụ và nguyên liệu phục vụ nghề sơn ta được giới thiệu tới công chúng, giúp người xem hình dung quy trình chế tác thủ công truyền thống.

5 / 23

Nhà nghiên cứu Đàm Quang Minh giới thiệu về công dụng của những dụng cụ tới khách tham quan.

6 / 23

Nhà nghiên cứu Đàm Quang Minh giới thiệu về kỹ thuật và ý nghĩa của các tác phẩm sơn ta tới khách tham quan.

7 / 23

Du khách quốc tế nghe thuyết minh về nghệ thuật sơn mài Việt Nam trong không gian trưng bày.

8 / 23

Khách tham quan đang được giới thiệu về những tác phẩm được trưng bày tại triển lãm.

9 / 23

Không gian trải nghiệm được tổ chức theo mô hình mở, nơi người tham gia có thể quan sát, tương tác và tiếp cận trực tiếp với nghề sơn truyền thống.

10 / 23

Không gian trưng bày kết hợp yếu tố giáo dục và trải nghiệm, thu hút đông đảo người trẻ tham gia tìm hiểu di sản văn hóa.

11 / 23

Khách tham quan tìm hiểu thông tin về lịch sử khu phố cổ và bối cảnh hình thành các làng nghề, trong đó có nghề sơn truyền thống.

12 / 23

Tác phẩm sơn mài nghệ thuật với kỹ thuật khảm và tạo màu đặc trưng, thể hiện chiều sâu thẩm mỹ của chất liệu sơn ta.

13 / 23

Các sản phẩm điêu khắc sử dụng sơn ta được trưng bày tại đình Hà Vĩ.

14 / 23

Không gian đình Hà Vĩ được trưng bày rất nhiều các tác phẩm sơn mài.

15 / 23

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tấn Phát chuẩn bị nguyên liệu sơn, giới thiệu các công đoạn chế tác truyền thống trong không gian trải nghiệm mở.

16 / 23

Những sản phẩm sơn mài sử dụng sơn Nhật kiểm soát bề mặt chặt chẽ, tạo độ bóng phẳng, mịn cao và thường được sử dụng trong các tác phẩm thủ công mỹ nghệ tinh xảo khác với sơn mài sử dụng sơn ta.

17 / 23

Khách tham gia lắng nghe nghệ nhân Nguyễn Tấn Phát chia sẻ về kỹ thuật và ý nghĩa của các tác phẩm sơn mài trong không gian đình cổ.

18 / 23

Du khách nước ngoài tìm hiểu và trải nghiệm sản phẩm sơn ta, thể hiện sức hút của văn hóa truyền thống Việt Nam.

19 / 23

Du khách nước ngoài hào hứng với sản phẩm thủ công sơn mài, góp phần lan tỏa giá trị di sản ra quốc tế.

20 / 23

Sản phẩm sơn mài với kỹ thuật khảm trai, vỏ trứng v.v... được thể hiện trên sản phẩm để giới thiệu với khách tham quan.

21 / 23

Quét sơn khảm trứng (hay còn gọi là cẩn trứng) là một kỹ thuật độc đáo trong nghệ thuật sơn mài truyền thống Việt Nam, nơi vỏ trứng gà hoặc trứng vịt được xử lý, tạo mảnh và gắn lên bề mặt sản phẩm để tạo hiệu ứng thị giác đặc biệt.

22 / 23

Nghệ nhân hướng dẫn kỹ thuật khảm vỏ trứng và xử lý bề mặt để hoàn thiện sản phẩm sơn mài cho người tham gia trải nghiệm.

23 / 23

Người tham gia trực tiếp thực hành trang trí sản phẩm sơn mài dưới sự hướng dẫn của nghệ nhân.

1 / 23

Hoạt động trải nghiệm thu hút đông đảo người trẻ tham gia, góp phần đưa di sản tiếp cận gần hơn với thế hệ mới.

Trong định hướng phát triển công nghiệp văn hóa gắn với du lịch theo Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị, các mô hình trải nghiệm di sản đang mở ra cách tiếp cận mới, đưa nghề truyền thống đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là người trẻ và du khách quốc tế. Hành trình “Theo dấu sơn ta” diễn ra trong khuôn khổ chuỗi sự kiện “Chạm nghề phố cổ 2026”, không chỉ tái hiện không gian nghề sơn với những giá trị thủ công đặc trưng, chương trình còn tạo cơ hội để người tham gia trực tiếp quan sát, tương tác và trải nghiệm chế tác. Ảnh: PHẠM ANH TUẤN - TTXVN

Quan trọng không kém là thay đổi nhận thức về vị trí của giáo dục nghệ thuật. Một nền giáo dục chỉ chú trọng truyền đạt kiến thức mà xem nhẹ khả năng cảm thụ, trí tưởng tượng và năng lực sáng tạo sẽ khó đào tạo nên những con người phát triển toàn diện. Trong thời đại mà máy móc ngày càng có thể đảm nhiệm nhiều thao tác kỹ thuật, những phẩm chất thuộc về con người - cảm xúc, lòng trắc ẩn, bản lĩnh văn hóa và khả năng tạo nên cái mới - càng trở nên quý giá.

Đổi mới giáo dục nghệ thuật, bởi vậy, không phải câu chuyện riêng của một môn học. Đó là sự chuẩn bị cho tương lai con người Việt Nam: có khả năng làm chủ công nghệ nhưng không bị công nghệ dẫn dắt; sẵn sàng hội nhập nhưng không hòa tan; biết trân trọng di sản và đủ tự tin để làm mới di sản bằng ngôn ngữ của thời đại.

Khi mỗi người học biết mình đến từ đâu, công nghệ sẽ không làm bản sắc phai nhạt mà có thể giúp bản sắc được cất lên bằng những hình thức mới. Và khi truyền thống trở thành nguồn năng lượng cho sáng tạo, giáo dục nghệ thuật sẽ thực sự góp phần xây dựng những con người Việt Nam vừa giàu căn cước, vừa rộng mở trước tương lai.

Bài viết: HIỀN LƯƠNG

Nguồn ảnh: THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

BÁO THỂ THAO VĂN HÓA

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: https://thethaovanhoa.vn/de-cong-nghe-chap-canh-cho-ban-sac-20260823010847596.htm