Để điện hạt nhân thành công – Cần nguồn nhân lực đào tạo bài bản

Việt Nam đang triển khai chương trình điện hạt nhân và thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử. Đây là nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh chống biến đổi khí hậu và chuyển đổi năng lượng xanh, hướng tới mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Để chương trình nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật hạt nhân và phát triển thành công điện hạt nhân an toàn và hiệu quả, Việt Nam đang đối diện với nhiều khó khăn và thách thức, trong đó, khó khăn và thách thức đầu tiên đến từ nguồn nhân lực. Phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam Trần Chí Thành về vấn đề này.

Tiến sỹ Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam . Ảnh: Trần Hải/TTXVN

Tiến sỹ Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam . Ảnh: Trần Hải/TTXVN

Xin ông cho biết thực trạng nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử?

Ngành hạt nhân Việt Nam bắt đầu từ khi thành lập Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt năm 1976, trên cơ sở tiếp quản lò hạt nhân nghiên cứu Đà Lạt. Ngành đã đào tạo được nhiều thế hệ cán bộ xuất sắc trong và ngoài nước, trong đó, có Giáo sư Nguyễn Đình Tứ, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu... là những cán bộ đầu đàn phát triển ngành hạt nhân của Việt Nam với mục tiêu thúc đẩy nghiên cứu cơ bản như vật lý hạt nhân, vật lý lò phản ứng, công nghệ vật liệu... từng bước đưa khoa học kỹ thuật hạt nhân ứng dụng trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, công nghiệp, tài nguyên môi trường...

Song song với đó, đội ngũ nhân lực nghiên cứu cơ bản về vật lý hạt nhân, kỹ thuật hạt nhân được hình thành và phát triển tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các trường đại học. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ đầu đàn đã lớn tuổi trong khi số lượng cán bộ trẻ nghiên cứu về vật lý hạt nhân không nhiều, vì vậy việc đào tạo thế hệ tiếp theo là nhiệm vụ quan trọng và rất cần thiết. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam tái khởi động chương trình điện hạt nhân.

Triển khai chương trình điện hạt nhân Việt Nam với 2 dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2, cùng với đó là việc Việt Nam bắt đầu nghiên cứu phát triển công nghệ lò mô đun nhỏ (SMR) nên nhu cầu về nguồn nhân lực là rất lớn. Theo kế hoạch, mỗi lò của Ninh Thuận cần khoảng 1.000 người làm việc, như vậy để vận hành dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2, số lượng người làm việc đã lên tới vài nghìn người.

Bên cạnh đó, số lượng cán bộ chủ chốt vận hành tại từng tổ máy cũng vài trăm người cho thấy số lượng nhân lực thiếu hụt rất lớn. Đặc biệt, trong quá trình triển khai cũng cần đội ngũ nhân lực xây dựng, chuyên gia, cán bộ quản lý về điện hạt nhân rất lớn. Đồng thời, nguồn nhân lực trong Cơ quan quản lý nhà nước và Cơ quan pháp quy về an toàn và an ninh hạt nhân (giám sát an toàn) cũng cần tới hàng trăm người có trình độ chuyên môn sâu về quản lý, luật pháp và kỹ thuật. Các đơn vị nghiên cứu triển khai (R&D) cũng cần số lượng lớn cán bộ được đào tạo bài bản, có thể lên đến hàng nghìn người...

Điều này cho thấy nhiệm vụ đặt ra về nguồn nhân lực ngành năng lượng nguyên tử nói chung, điện hạt nhân nói riêng rất lớn và khó khăn. Để đáp ứng được mục tiêu và triển khai chương trình điện hạt nhân thành công, Việt Nam phải tập trung triển khai ngay chương trình đào tạo quốc gia bài bản và hiệu quả, theo kinh nghiệm và thông lệ quốc tế.

Hiện nay, Việt Nam đã tập trung chương trình đào tạo quốc gia để từng bước hình thành nguồn nhân lực chủ chốt, ông nhìn nhận thế nào về vấn đề này?

Triển khai Quyết định số 1012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án "Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phát triển điện hạt nhân đến năm 2035", Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định chọn 11 trường và cơ sở đào tạo tham gia vào chương trình đào tạo cán bộ cho điện hạt nhân.

Tuy nhiên, khó khăn thách thức lớn nhất của Việt Nam khi triển khai đào tạo cán bộ cho điện hạt nhân là Việt Nam chưa có bất kỳ trường đại học nào đào tạo cử nhân và kỹ sư theo chuyên ngành điện hạt nhân từ trước đến nay.

Các trường đào tạo về hạt nhân chủ yếu về vật lý hạt nhân và kỹ thuật hạt nhân, ứng dụng khoa học công nghệ hạt nhân, không phải theo chuyên ngành điện hạt nhân. Vì vậy, đề đán đào tạo, bồi dưỡng ngành công nghệ điện hạt nhân là cần thiết để có đội ngũ cán bộ chủ chốt trong nhà máy, cũng như đào tạo cho quản lý và nghiên cứu.

Phát triển điện hạt nhân kéo dài hàng trăm năm, mặc dù Việt Nam đã tập trung chương trình đào tạo quốc gia để từng bước hình thành nguồn nhân lực chủ chốt nhưng hiện chưa có một chương trình đào tạo công nghệ điện hạt nhân theo chuẩn quốc tế.

Bên cạnh đó, Việt Nam đang thiếu đội ngũ giáo viên, giảng viên với nền tảng về hạt nhân để tham gia giảng dạy cho chuyên ngành điện hạt nhân; Thiếu hệ thống trang thiết bị giảng dạy, thiếu các chương trình tính toán mô phỏng, thiếu các phòng thí nghiệm về nhiệt và vật lý hạt nhân để giảng dạy...

Đặc biệt chưa có nhà máy điện hạt nhân để gửi sinh viên đến thực tập. Hiện Việt Nam chỉ có lò Đà Lạt, tuy nhiên lò chỉ để nghiên cứu và sản xuất dược chất phóng xạ, khác xa với thực tế tại nhà máy điện hạt nhân.

Đề chương trình đào tạo quốc gia về điện hạt nhân chủ động nguồn nhân lực, Việt Nam cần chọn đầu tư cho 2 trường đại học với đầy đủ cơ sở vật chất đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế về đào tạo điện hạt nhân như: trang thiết bị giảng dạy, phần mềm tính toán mô phỏng, trang thiết bị thí nghiệm...

Tuyển sinh đào tạo chuyên ngành điện hạt nhân khi đã có chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế. Nâng cấp, đầu tư, bổ sung một số môn học về hạt nhân cho 9 trường đại học và cơ sở còn lại tham gia chương trình đào tạo điện hạt nhân để các trường đại học có thể đào tạo chuyên sâu các chuyên ngành khác liên quan đến điện hạt nhân như: cơ khí, chế tạo, điện, tự động điều khiển, công nghệ hoá học, vật liệu...

Theo ông cần giải pháp gì để sớm hình thành nguồn nhân lực điện hạt nhân mạnh?

Nguồn nhân lực điện hạt nhân không chỉ đào tạo mới, bài toán đặt ra còn là thu hút, sử dụng và giữ chân đội ngũ đã được đào tạo trong lĩnh vực hạt nhân. Trước hết, cần tập trung vào đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật làm việc trực tiếp tại các nhà máy, đây là lực lượng có yêu cầu cao về chuyên môn, kỹ năng vận hành và khả năng làm việc trong môi trường công nghệ đặc thù.

Trước đây, khi Việt Nam quyết định triển khai điện hạt nhân, Việt Nam đã gửi đi đào tạo gần 400 người tại Liên bang Nga và Nhật Bản phục vụ lĩnh vực điện hạt nhân, nhưng do Việt Nam dừng chương trình điện hạt nhân nên sau khi trở về nước, số nhân lực này chuyển sang làm việc ở các lĩnh vực khác nên cần cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút lực lượng đã đào tạo bài bản theo chương trình quốc tế quay lại làm việc. Hiện nay, khoảng 30% số người được đào tạo tiếp tục làm việc trong lĩnh vực điện hạt nhân.

Để triển khai thành công chương trình điện hạt nhân, bài toán đặt ra là phải duy trì nguồn nhân lực sau đào tạo, vấn đề này cần được tính đến khi xây dựng kế hoạch nhân lực mới. Bởi với lĩnh vực hạt nhân, quá trình đào tạo cần thời gian dài, đòi hỏi kiến thức chuyên sâu và chi phí lớn. Nếu nhân lực sau khi được đào tạo không tiếp tục làm việc trong lĩnh vực này, nguồn lực đầu tư cho đào tạo sẽ khó được phát huy đầy đủ.

Việt Nam cần xây dựng chế độ đãi ngộ, học bổng để thu hút sinh viên vào học ngành hạt nhân và tiếp tục tuyển chọn những sinh viên giỏi gửi ra nước ngoài đào tạo theo chuyên ngành điện hạt nhân khi trong nước chưa đào tạo được công nghệ điện hạt nhân theo đúng chuẩn mực quốc tế.

Đồng thời, thúc đẩy hợp tác với đối tác nước ngoài có chương trình đào tạo công nghệ điện hạt nhân tiên tiến để đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ chuyên gia, cán bộ chất lượng cao ngành năng lượng nguyên tử và triển khai các giải pháp thu hút, sử dụng và giữ chân đội ngũ này với môi trường làm việc phù hợp và có cơ hội phát triển nghề nghiệp trong lĩnh vực hạt nhân, nhất là trong bối cảnh nhu cầu nhân lực dự kiến tăng nhanh trong những năm tới.

Trân trọng cảm ơn ông.

Thu Hà/TTXVN

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/de-dien-hat-nhan-thanh-cong-can-nguon-nhan-luc-dao-tao-bai-ban-post1392753.html