Để học sinh quay lại với chọn lựa môn khoa học tự nhiên

Trong khi chiến lược quốc gia đặt trọng tâm vào các lĩnh vực khoa học - công nghệ, thì lựa chọn môn học của học sinh lại có khuynh hướng rời xa các môn khoa học tự nhiên. Đây không còn là vấn đề đơn lẻ của bất kỳ địa phương nào trong cả nước, mà là một xu hướng và phản ánh khoảng cách giữa định hướng chính sách và cách hệ thống giáo dục vận hành trên thực tế.

Trong giai đoạn phát triển mới, khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực trung tâm của tăng trưởng, yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành điều kiện tiên quyết. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt nền tảng cho định hướng này, Nghị quyết 71-NQ/TW tiếp tục nhấn mạnh vai trò then chốt của hệ thống giáo dục trong việc chuẩn bị lực lượng lao động đáp ứng yêu cầu phát triển. Tuy nhiên, một nghịch lý đang dần lộ rõ ngay từ bậc phổ thông.

Lựa chọn của người học và độ lệch trong thiết kế hệ thống

Dữ liệu từ các kỳ thi tốt nghiệp THPT cho thấy sự thay đổi trong lựa chọn môn học của học sinh diễn ra theo xu hướng rõ ràng và kéo dài qua nhiều năm. Cơ cấu lựa chọn tương đối cân bằng giữa hai nhóm môn khoa học tự nhiên (nhóm tự nhiên) và khoa học xã hội (nhóm xã hội) trong giai đoạn 2017-2018 là 52% và 48% đã thay đổi khi vào giai đoạn 2019-2023, tịnh tiến dần về phía chọn nhóm xã hội với mức trên 53%, rồi 63% vào năm 2024. Mức tương ứng ở nhóm tự nhiên là 32-34% và 37%. Năm 2025, khi cơ chế thi cho phép thí sinh chủ động lựa chọn tổ hợp môn, xu hướng này được củng cố rõ hơn, với gần 65% thí sinh chọn xã hội và khoảng 35% chọn tự nhiên(1), (2).

Mức giảm trong nhóm học tự nhiên cũng diễn ra không đồng đều giữa các môn. Những môn đòi hỏi tích lũy kiến thức dài hạn như hóa học (21,2%) và sinh học (6,2%) ghi nhận mức giảm sâu hơn, trong khi các môn mới như công nghệ (0,8%) và tin học (0,7%) có tỷ lệ lựa chọn rất thấp(3). Điều này cho thấy sự thay đổi không chỉ về quy mô lựa chọn, mà còn phản ánh sự dịch chuyển về cấu trúc ưu tiên môn học trong hệ thống giáo dục phổ thông.

Nhìn tổng thể, dữ liệu cho thấy một “điểm gãy” từ năm 2019, sau đó việc lựa chọn của học sinh ổn định theo hướng giảm KHTN. Xu hướng này kéo dài nhiều năm với biên độ dao động nhỏ và khoảng cách ngày càng lớn, cho thấy đây là biến động mang tính cấu trúc, gắn với cách hệ thống vận hành, chứ không phải thay đổi ngắn hạn.

Nếu nhìn từ phía người học, lựa chọn này không phải là bất hợp lý. Trong một hệ thống mà thi cử vẫn đóng vai trò quyết định đối với cơ hội vào đại học, học sinh có xu hướng tối ưu hóa khả năng đạt điểm. Các môn khoa học tự nhiên đòi hỏi nền tảng tích lũy dài hạn, tư duy logic và độ chính xác cao, trong khi đề thi thường có độ phân hóa lớn, khiến rủi ro điểm số cao hơn. Ngược lại, các môn khoa học xã hội thường được đánh giá là dễ tiếp cận hơn, dễ đạt ngưỡng điểm an toàn hơn. Khi lợi ích giữa các lựa chọn chưa có sự khác biệt rõ ràng, việc chọn phương án ít rủi ro là phản ứng hợp lý.

Vì vậy, vấn đề không nằm ở học sinh, mà ở cách hệ thống định hướng và đánh giá. Khi đề thi còn thiên về kỹ thuật, cách đánh giá chưa phản ánh đầy đủ năng lực vận dụng, và cơ chế xét tuyển chưa ổn định, hệ thống vô hình trung khuyến khích những lựa chọn an toàn. Điều này được củng cố qua nhiều cấp độ khác nhau.

Ở bậc THCS, kỳ thi vào lớp 10 trong nhiều năm chủ yếu tập trung vào một số môn nhất định, khiến các môn khoa học tự nhiên không còn giữ vai trò quyết định, đơn cử trong năm học 2025-2026, tỉnh tiêu biểu lựa chọn thi KHTN chỉ có Tuyên Quang; còn lại hầu hết các tỉnh không chọn môn này. Học sinh vì vậy giảm đầu tư từ sớm, dẫn đến thiếu hụt nền tảng và hình thành tâm lý e ngại. Khi bước vào THPT, lựa chọn “né tránh” không còn là quyết định tức thời, mà là kết quả của một quá trình tích lũy.

Cách dạy học cũng góp phần làm sâu sắc thêm xu hướng này. Khi khoa học tự nhiên được truyền tải chủ yếu qua công thức, thiếu thí nghiệm và ít liên hệ với thực tiễn, học sinh khó cảm nhận được ý nghĩa của kiến thức môn học. Một môn học vừa khó, vừa khô, lại gắn với rủi ro điểm số cao sẽ khó trở thành lựa chọn ưu tiên.

Việc học sinh giảm lựa chọn các môn khoa học tự nhiên không đơn thuần là “học lệch”, mà xuất phát từ cách thi cử và tuyển sinh hiện nay chưa thống nhất. Ảnh: N.K

Việc học sinh giảm lựa chọn các môn khoa học tự nhiên không đơn thuần là “học lệch”, mà xuất phát từ cách thi cử và tuyển sinh hiện nay chưa thống nhất. Ảnh: N.K

Ngoài hệ thống giáo dục, lựa chọn của học sinh còn chịu ảnh hưởng mạnh từ môi trường xã hội. Trong nhiều gia đình, các ngành kỹ thuật hay khoa học vẫn bị nhìn nhận là khó theo đuổi và chưa chắc mang lại thu nhập tương xứng, trong khi các lĩnh vực khác như kinh tế, truyền thông hay dịch vụ lại dễ hình dung hơn về cơ hội nghề nghiệp. Định hướng học tập theo nội dung thi, xu hướng né tránh rủi ro, cùng với ảnh hưởng từ bạn bè và mạng xã hội đã góp phần củng cố lựa chọn này. Nhìn tổng thể, việc học sinh giảm lựa chọn các môn khoa học tự nhiên không đơn thuần là “học lệch”, mà xuất phát từ cách thi cử và tuyển sinh hiện nay chưa thống nhất.

Thu hẹp khoảng cách giữa định hướng phát triển và thực tiễn giáo dục

Khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là trụ cột phát triển, thì hệ thống giáo dục cần tạo ra dòng chảy nhân lực tương ứng. Tuy nhiên, thực tế lựa chọn môn học ở phổ thông lại cho thấy dòng chảy này đang bị thu hẹp ngay từ đầu vào.

Hệ quả không chỉ dừng lại ở quy mô tuyển sinh các ngành khoa học - công nghệ. Về dài hạn, nó ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học hay năng lượng đều đòi hỏi nền tảng khoa học vững chắc. Khi nguồn đầu vào suy giảm, khả năng phát triển các ngành này cũng bị hạn chế.

Ở một góc độ khác, khoa học tự nhiên không chỉ nhằm đào tạo chuyên gia, mà còn góp phần vào tư duy logic, tư duy thực chứng và khả năng giải quyết vấn đề. Khi mức độ tham gia vào các môn học này giảm, những năng lực nền tảng đó cũng có xu hướng suy yếu ở quy mô rộng hơn. Đây là hệ quả diễn ra âm thầm nhưng có tác động dài hạn.

Vì vậy, để học sinh quay lại với khoa học tự nhiên thì cần hoàn thiện phương pháp dạy, cách thi cử, đánh giá và tuyển sinh để lựa chọn của người học phù hợp hơn với nhu cầu phát triển. Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận đồng bộ và nhất quán. Trước hết, cần thay đổi cách đánh giá trong thi cử. Các môn khoa học tự nhiên cần được thiết kế theo hướng đo lường năng lực thực chất, giảm yếu tố đánh đố và tăng khả năng vận dụng. Khi đề thi phản ánh đúng bản chất của khoa học, người học sẽ có động lực tiếp cận theo hướng hiểu và khám phá, thay vì chỉ luyện kỹ thuật.

Đồng thời, cơ chế tuyển sinh đại học cần ổn định và nhất quán hơn. Việc sử dụng các tổ hợp xét tuyển cần bảo đảm logic khoa học, tránh tạo ra những định hướng chưa phù hợp. Khi học sinh nhận thấy đầu tư vào các môn khoa học tự nhiên mang lại lợi thế rõ ràng và bền vững, lựa chọn sẽ tự nhiên thay đổi. Một điểm then chốt khác là hướng nghiệp. Học sinh chỉ có thể đưa ra lựa chọn khi hiểu rõ hướng đi và cơ hội tương lai phía trước. Nếu việc học khoa học tự nhiên không gắn với hình dung cụ thể về nghề nghiệp thì rất khó tạo động lực dài hạn. Vì vậy, hướng nghiệp cần được triển khai sớm, đặc biệt ở bậc THCS.

Về lâu dài, cần thay đổi cách dạy và cách học. Khi khoa học được tiếp cận qua thí nghiệm, dự án và các vấn đề thực tiễn, học sinh sẽ thấy được ý nghĩa và cái hay của kiến thức môn học. Đồng thời, việc kết nối giữa nhà trường, đại học và doanh nghiệp cần được tăng cường, để việc học gắn với cơ hội nghề nghiệp cụ thể.

Cũng cần nhấn mạnh rằng một nền giáo dục cân bằng không đặt khoa học tự nhiên đối lập với khoa học xã hội. Vấn đề không nằm ở việc học sinh chọn lĩnh vực nào, mà ở sự mất cân đối kéo dài giữa các lĩnh vực. Khi các yếu tố như thi cử, đánh giá và định hướng được tổ chức cân bằng, lựa chọn của người học sẽ đa dạng và hài hòa hơn.

Cuối cùng, việc học sinh giảm lựa chọn các môn khoa học tự nhiên cần được nhìn nhận như một dấu hiệu đáng lưu ý. Điều này cho thấy còn có khoảng cách giữa định hướng phát triển và thực tiễn giáo dục. Nếu không được khắc phục, khoảng cách này sẽ tiếp tục gia tăng. Ngược lại, nếu cách dạy học, thi cử, đánh giá và tuyển sinh được tổ chức lại một cách nhất quán, không cần ép buộc, lựa chọn của người học sẽ dần phù hợp hơn với nhu cầu phát triển trong bối cảnh hiện nay.

(1) https://giaoduc.net.vn/nguoc-dong-xu-huong-da-so-thi-sinh-tphcm-chon-to-hop-khtn-o-ky-thi-tot-nghiep-post244650.gd

(2) https://giaoduc.net.vn/thi-tot-nghiep-thpt-2025-hon-nua-trieu-luot-thi-sinh-dang-ki-cac-mon-khxh-post252234.gd

(3) https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/chi-tiet-so-luong-thi-sinh-dang-ky-du-thi-tot-nghiep-2025-theo-mon-119250429104500003.htm

Ths. Thúy Diễm

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/de-hoc-sinh-quay-lai-voi-chon-lua-mon-khoa-hoc-tu-nhien/