Để kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học trở về đúng vai trò

Những bất thường về điểm thi năm 2026 tiếp tục đặt ra câu hỏi về việc có nên tách kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học. Nhưng công bằng trong thi cử không được quyết định bởi một hay hai kỳ thi, mà bởi chất lượng của cả hệ thống khảo thí. Khi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học hướng tới hai mục tiêu khác nhau, việc phân định đúng vai trò của từng kỳ thi là yêu cầu cần thiết để đổi mới phương thức đánh giá trong giáo dục.

Đức Dũng16/07/2026

Những bất thường về điểm thi năm 2026 tiếp tục đặt ra câu hỏi về việc có nên tách kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học. Nhưng công bằng trong thi cử không được quyết định bởi một hay hai kỳ thi, mà bởi chất lượng của cả hệ thống khảo thí. Khi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học hướng tới hai mục tiêu khác nhau, việc phân định đúng vai trò của từng kỳ thi là yêu cầu cần thiết để đổi mới phương thức đánh giá trong giáo dục.

* * * * *

Lịch sử thi cử ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua gần như luôn gắn với những cuộc cải cách. Có thời kỳ học sinh phải trải qua hai kỳ thi lớn chỉ cách nhau vài tuần: kỳ thi tốt nghiệp THPT và kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng. Áp lực đè nặng lên học sinh, gia đình và cả xã hội. Hàng triệu lượt người di chuyển, hàng nghìn tỷ đồng chi phí phát sinh mỗi mùa thi.

Từ năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện mô hình kỳ thi THPT quốc gia, sau này là Kỳ thi tốt nghiệp THPT, vừa để xét công nhận tốt nghiệp, vừa cung cấp dữ liệu cho các cơ sở giáo dục đại học tuyển sinh. Đây là bước cải cách lớn nhằm giảm áp lực thi cử, giảm chi phí xã hội và tăng tính thống nhất trong đánh giá.

Các giám thị làm thủ tục gọi thí sinh vào phòng thi. Ảnh: Mỹ Hà

Các giám thị làm thủ tục gọi thí sinh vào phòng thi. Ảnh: Mỹ Hà

Thực tế cho thấy, mô hình "hai trong một" đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Học sinh chỉ phải tập trung cho một kỳ thi thay vì hai kỳ thi liên tiếp. Phụ huynh giảm đáng kể chi phí đi lại, ăn ở và ôn luyện. Địa phương giảm gánh nặng tổ chức. Các trường đại học cũng có thêm một nguồn dữ liệu chuẩn hóa để sử dụng cùng nhiều phương thức tuyển sinh khác. Nhìn dưới góc độ quản trị giáo dục, đây là mô hình mà nhiều quốc gia cũng đang áp dụng với các mức độ khác nhau.

Tuy nhiên, chính mô hình này lại chứa đựng một mâu thuẫn rất khó dung hòa. Kỳ thi tốt nghiệp THPT có mục tiêu đánh giá xem học sinh đã hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông hay chưa. Đây là phép đo theo chuẩn tối thiểu (minimum competency), tức người học chỉ cần đạt ngưỡng nhất định để được công nhận tốt nghiệp. Trong khi đó, tuyển sinh đại học lại là cuộc cạnh tranh để lựa chọn những thí sinh xuất sắc nhất. Mục tiêu của nó là phân loại ở nhóm trên cùng của phổ năng lực. Một bên đánh giá "đủ điều kiện tốt nghiệp", một bên lựa chọn "người giỏi hơn". Đó là hai mục tiêu hoàn toàn khác nhau.

Thí sinh theo dõi phòng thi tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Thí sinh theo dõi phòng thi tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Chính vì vậy, tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới đây, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cho rằng cần nghiên cứu việc tách kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học. Quan điểm này nhận được sự hưởng ứng của nhiều chuyên gia.

Về bản chất, kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học phục vụ hai mục tiêu khác nhau của hệ thống giáo dục. Kỳ thi tốt nghiệp nhằm xác nhận người học đã hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông và đạt chuẩn đầu ra theo quy định. Ngược lại, tuyển sinh đại học là quá trình cạnh tranh để lựa chọn những thí sinh có năng lực phù hợp nhất với yêu cầu đào tạo của từng cơ sở giáo dục đại học. Khi một đề thi phải đồng thời thực hiện cả chức năng "đánh giá đạt chuẩn" và "phân loại tuyển chọn", áp lực đặt lên công tác khảo thí sẽ lớn hơn rất nhiều. Đây cũng là lý do cuộc tranh luận về mô hình "một kỳ thi, hai mục tiêu" vẫn chưa có hồi kết.

Phổ biến quy chế thi cho các thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Phổ biến quy chế thi cho các thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Trong lĩnh vực đo lường giáo dục, một bài kiểm tra chỉ đạt hiệu quả cao nhất khi phục vụ một mục tiêu đánh giá cụ thể. Nếu muốn đánh giá chuẩn đầu ra thì đề thi không cần quá nhiều câu hỏi cực khó. Ngược lại, nếu cần tuyển chọn những học sinh xuất sắc nhất thì đề thi phải có độ phân hóa rất cao. Cố gắng đáp ứng đồng thời hai mục tiêu sẽ khiến việc thiết kế đề thi trở nên phức tạp hơn rất nhiều. Thế nhưng, cũng cần nhìn nhận khách quan rằng, chính việc kỳ thi phải thực hiện hai mục tiêu không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những bất thường về điểm thi. Nếu chỉ vì xuất hiện sai phạm mà lập tức kết luận phải quay trở lại hai kỳ thi riêng biệt thì có phần đơn giản hóa vấn đề. Bởi một câu hỏi lớn hơn cần được đặt ra là: nếu tách thành hai kỳ thi thì liệu tiêu cực có tự biến mất?

Một câu hỏi cần được đặt ra là: Nếu tách thành hai kỳ thi thì liệu tiêu cực có tự biến mất?

Mỗi khi xảy ra một vụ việc gây bức xúc trong thi cử, xã hội thường có xu hướng tìm kiếm một giải pháp mang tính cấu trúc, chẳng hạn thay đổi mô hình tổ chức kỳ thi. Đó là phản ứng dễ hiểu. Nhưng kinh nghiệm cải cách giáo dục ở nhiều quốc gia cho thấy, hình thức tổ chức kỳ thi không quyết định chất lượng của kỳ thi. Điều quyết định là năng lực khảo thí.

Thí sinh kiểm tra niêm phong đề thi tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Thí sinh kiểm tra niêm phong đề thi tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Khảo thí không chỉ là việc ra đề. Đó là một hệ thống hoàn chỉnh, từ xây dựng ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa, thử nghiệm câu hỏi, phân tích thống kê, bảo mật đề thi, tổ chức coi thi, chấm thi, xử lý dữ liệu, phân tích phổ điểm đến kiểm định độc lập sau kỳ thi. Nếu tất cả những mắt xích này vận hành tốt thì dù một kỳ thi hay hai kỳ thi, độ tin cậy vẫn được bảo đảm. Ngược lại, nếu hệ thống khảo thí còn nhiều lỗ hổng thì thêm một kỳ thi cũng chỉ đồng nghĩa với việc có thêm một quy trình cần kiểm soát. Nói cách khác, không thể kỳ vọng việc tách hai kỳ thi sẽ tự động giải quyết những vấn đề thuộc về quản trị.

Nhiều chuyên gia giáo dục đã chỉ ra rằng, gốc của vấn đề hiện nay nằm ở việc công tác khảo thí ở nước ta vẫn chủ yếu dựa trên đội ngũ kiêm nhiệm. Những người tham gia ra đề, coi thi, chấm thi phần lớn chỉ làm nhiệm vụ theo mùa vụ. Trong khi đó, ở nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển, khảo thí là một ngành nghề chuyên nghiệp. Các chuyên gia khảo thí được đào tạo bài bản về đo lường giáo dục, thống kê, tâm lý học, công nghệ đánh giá và khoa học dữ liệu. Mỗi câu hỏi trước khi đưa vào đề chính thức đều trải qua quá trình thử nghiệm trên hàng chục nghìn học sinh để xác định độ khó, độ phân biệt và độ tin cậy. Sau khi kỳ thi kết thúc, hệ thống phân tích dữ liệu sẽ tự động phát hiện những phổ điểm bất thường. Nếu một địa phương có tỷ lệ điểm cao bất thường so với quy luật thống kê, hệ thống sẽ lập tức phát tín hiệu cảnh báo để kiểm tra. Đó là cách quản trị hiện đại.

Các thí sinh ký cam kết không sử dụng thiết bị công nghệ cao trong Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Các thí sinh ký cam kết không sử dụng thiết bị công nghệ cao trong Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn hoàn toàn có thể hỗ trợ rất hiệu quả việc phát hiện các dấu hiệu bất thường trong điểm thi, thay vì chỉ dựa vào kiểm tra thủ công hoặc phản ánh của dư luận. Đây mới là hướng đầu tư lâu dài.

Một thực tế khác cũng rất đáng suy ngẫm là ngay cả khi các trường đại học mở rộng phương thức xét tuyển học bạ thì những tranh cãi về tính công bằng vẫn không chấm dứt. Nhiều năm qua, dư luận không ít lần đặt câu hỏi về hiện tượng điểm học bạ của một số học sinh gần như tuyệt đối nhưng kết quả ở các kỳ thi chuẩn hóa hoặc trong quá trình học đại học lại không tương xứng. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nhiều lần yêu cầu các địa phương siết chặt việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên để hạn chế tình trạng "làm đẹp" học bạ. Điều đó cho thấy, nếu dữ liệu đánh giá trong nhà trường chưa thật sự khách quan thì học bạ cũng không thể trở thành "lá bùa" bảo đảm công bằng. Vì vậy, không nên đặt kỳ vọng rằng chỉ cần giảm vai trò của kỳ thi quốc gia là mọi bất cập sẽ được giải quyết.

Thí sinh làm bài tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Thí sinh làm bài tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Suy cho cùng, điểm thi hay học bạ đều chỉ là những nguồn dữ liệu của một hệ thống đánh giá. Nếu hệ thống ấy thiếu chuẩn hóa, thiếu minh bạch thì bất kỳ phương thức tuyển sinh nào cũng có thể đối mặt với nguy cơ sai lệch. Đó cũng là lý do nhiều cơ sở giáo dục đại học hiện nay không còn phụ thuộc hoàn toàn vào một phương thức tuyển sinh duy nhất, mà kết hợp nhiều nguồn thông tin như điểm thi tốt nghiệp THPT, kết quả học tập phổ thông, bài thi đánh giá năng lực, chứng chỉ quốc tế, phỏng vấn hoặc bài luận. Việc đa dạng hóa phương thức tuyển sinh là xu hướng phù hợp, nhưng điều kiện tiên quyết vẫn là mỗi nguồn dữ liệu phải bảo đảm tính trung thực, khách quan và có khả năng phản ánh đúng năng lực người học.

Theo một số chuyên gia giáo dục, việc nghiên cứu tách kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học là cần thiết, bởi hai hoạt động này hướng tới những mục tiêu khác nhau. Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp duy nhất và càng không phải “chiếc đũa thần” có thể giải quyết mọi bất cập của thi cử. Bất kỳ phương án nào cũng cần được đánh giá toàn diện trên các phương diện như chi phí xã hội, tác động đến học sinh, sự công bằng giữa các vùng miền, khả năng tiếp cận giáo dục đại học và hiệu quả tổ chức thực hiện.

Thí sinh tham dự Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Thí sinh tham dự Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Điều quan trọng hơn cả là phải xây dựng được một nền tảng đánh giá đủ tin cậy. Muốn vậy, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống khảo thí theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và minh bạch; phát triển đội ngũ chuyên gia khảo thí; xây dựng ngân hàng đề thi chuẩn hóa; ứng dụng công nghệ số trong quản lý, phân tích dữ liệu; đồng thời tăng cường các cơ chế giám sát độc lập để bảo đảm sự khách quan trong toàn bộ quá trình đánh giá. Khi nền tảng này đủ vững chắc, việc tổ chức một kỳ thi hay nhiều kỳ thi sẽ chỉ còn là lựa chọn về phương thức quản lý, thay vì là bài toán đặt nặng nỗi lo về tính trung thực của kết quả.

Bởi cuối cùng, mục tiêu của cải cách thi cử không phải là thay đổi số lượng kỳ thi, mà là trả lại đúng vai trò cho từng hoạt động đánh giá. Kỳ thi tốt nghiệp THPT cần tập trung vào việc xác nhận học sinh đã đạt chuẩn đầu ra sau 12 năm học phổ thông, trên cơ sở kết hợp giữa đánh giá quá trình và những công cụ kiểm tra khách quan. Trong khi đó, tuyển sinh đại học cần hướng tới việc lựa chọn những người học có năng lực, tư duy, phẩm chất và sự phù hợp với yêu cầu đào tạo của từng ngành, từng trường.

Mục tiêu của cải cách thi cử không phải là thay đổi số lượng kỳ thi, mà là trả lại đúng vai trò cho từng hoạt động đánh giá.

Thí sinh tham dự Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Thí sinh tham dự Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Mỹ Hà

Khi chất lượng giáo dục trong nhà trường được bảo đảm, việc đánh giá quá trình học tập trở nên đáng tin cậy và các phương thức khảo thí được vận hành khoa học, kỳ thi tốt nghiệp THPT sẽ không còn phải gánh quá nhiều nhiệm vụ như hiện nay. Khi đó, công nhận tốt nghiệp phổ thông sẽ thực sự là kết quả của một quá trình học tập, còn tuyển sinh đại học sẽ trở về đúng bản chất là quá trình lựa chọn nguồn nhân lực phù hợp. Đó không chỉ là sự điều chỉnh về cách thức tổ chức thi, mà là bước chuyển trong tư duy quản trị giáo dục, hướng tới một nền giáo dục thực chất, công bằng và phát triển bền vững.

Đức Dũng

Nguồn Nghệ An: https://baonghean.vn/de-ky-thi-tot-nghiep-thpt-va-tuyen-sinh-dai-hoc-tro-ve-dung-vai-tro-10344288.html