Để mỗi trẻ em được chào đón
ĐNCT - Tại một số địa phương trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, sự chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh và áp lực phải có con trai đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về bình đẳng giới...

Nhân viên y tế Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng hướng dẫn và chăm sóc sản phụ. Ảnh: LÊ HÙNG
Gỡ bỏ định kiến
Chị N.T.H., trú phường Sơn Trà, vừa đón con gái thứ ba chào đời. Ít ai biết rằng, hành trình để em bé được cất tiếng khóc đầu tiên đã có lúc đặt vợ chồng chị trước một quyết định đầy day dứt. Chị kể, khi thai được 12 tuần tuổi, sau khi làm xét nghiệm và biết em bé là gái, vợ chồng chị từng nghĩ đến việc bỏ thai vì trước đó đã có hai con gái. Thế nhưng, khi bác sĩ cho nghe tim thai, báo rằng con khỏe mạnh, cả hai đã không nỡ.
Sinh ra từ làng biển, quan niệm về việc cần có con trai nối dõi vẫn hiện hữu trong từng lời ăn, tiếng nói của ba mẹ chồng khiến chị H. không ít lần chịu áp lực. “Giữa niềm vui được đón thêm một thành viên mới và những kỳ vọng về con cái của gia đình, vợ chồng tôi đã có lúc chông chênh trước lựa chọn của mình. Nhưng may là, chúng tôi đã kịp dừng lại”, chị H. chia sẻ.
Thực tế, tâm lý chuộng con trai không chỉ tác động đến quyết định sinh con của nhiều cặp vợ chồng mà còn góp phần làm gia tăng chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh. Theo báo cáo của UBND phường Sơn Trà, trong 8 tháng đầu năm 2026, tỷ số giới tính khi sinh trên địa bàn là 111 bé trai/100 bé gái. Với địa bàn rộng, dân số đông sau sắp xếp đơn vị hành chính, việc theo dõi biến động dân số, tuyên truyền thay đổi nhận thức và ngăn ngừa hành vi lựa chọn giới tính thai nhi đặt ra nhiều thách thức.
Đứng trước sự chênh lệch về giới, ông Nguyễn Huy Bình, Phó Chủ tịch UBND phường Sơn Trà cho biết địa phương đã nghiêm túc đánh giá nguyên nhân và tập trung làm tốt công tác phối hợp giữa chính quyền, ngành y tế và các đoàn thể trong công tác dân số. Bên cạnh đó là yêu cầu tăng cường giám sát, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ y tế, ngăn ngừa việc lợi dụng tiến bộ kỹ thuật để lựa chọn giới tính thai nhi.
Ở chiều ngược lại, tại xã miền núi Trà Liên, tỷ số giới tính khi sinh được ghi nhận ở mức 101 bé trai/100 bé gái. Tuy vậy, kết quả này chưa đồng nghĩa định kiến giới đã được xóa bỏ. Tại một số thôn cách xa trung tâm xã, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại. Phụ nữ dân tộc thiểu số còn gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin, nguồn vốn và cơ hội phát triển kinh tế. Chưa kể, công việc gia đình ở một số nơi vẫn chủ yếu do phụ nữ đảm nhận, khiến tiếng nói và quyền lựa chọn của họ chưa thực sự bình đẳng.
Ông Dương Minh Anh, Phó Chủ tịch UBND xã Trà Liên nhìn nhận công tác dân số vẫn còn nhiều thách thức, nhất là ở những địa bàn xa trung tâm, nơi điều kiện tiếp cận thông tin và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản còn hạn chế. Theo ông, để từng bước thay đổi nhận thức, công tác tuyên truyền cần đi sâu đến từng thôn, từng hộ gia đình, phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng và các tổ chức đoàn thể. Cùng với đó, việc tạo điều kiện để phụ nữ phát triển kinh tế, nâng cao vị thế trong gia đình sẽ góp phần giúp họ chủ động hơn trong những quyết định liên quan đến sinh con và cuộc sống của mình.
Thay đổi từ gia đình đến cộng đồng
Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh không còn là câu chuyện hiếm. Và đằng sau những con số ấy là cách xã hội nhìn nhận giá trị của nam giới và phụ nữ, là áp lực mà người mẹ có thể phải chịu khi sinh con gái.
Bà Lê Thị Minh Hiền, Phó trưởng phòng Tổ chức - Hành chính, Chi cục Dân số, Sở Y tế thành phố Đà Nẵng cho rằng truyền thông về bình đẳng giới cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, gắn với nâng cao chất lượng dân số và trách nhiệm của mỗi gia đình. Khi con trai và con gái được nhìn nhận bình đẳng, phụ nữ không còn phải chịu áp lực sinh con theo mong muốn của người khác.
Cùng với vận động thay đổi nhận thức, hành lang pháp lý cũng được Nhà nước siết chặt hơn nhằm ngăn chặn việc lựa chọn giới tính thai nhi. Cụ thể, tại Thông tư số 11/2026/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 15/5/2026, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 quy định việc thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi phải phục vụ mục đích chuyên môn y tế và người đứng đầu cơ sở khám, chữa bệnh chịu trách nhiệm nếu để xảy ra việc tiết lộ không đúng mục đích hoặc ngoài phạm vi cho phép.
Quy định tạo cơ sở pháp lý để kiểm soát việc sử dụng kỹ thuật y tế trong xác định giới tính thai nhi, đồng thời bảo đảm nhu cầu chẩn đoán, điều trị những bệnh lý cần thiết. Tuy vậy, hiệu quả của chính sách còn phụ thuộc vào việc thực thi nghiêm túc tại các cơ sở y tế và sự giám sát của cơ quan chức năng. Quan trọng hơn, khi nhu cầu tìm biết giới tính thai nhi vẫn xuất phát từ mong muốn lựa chọn con trai, những biện pháp quản lý cần đi cùng nỗ lực thay đổi quan niệm trong gia đình và cộng đồng.
Những quan niệm đã ăn sâu qua nhiều thế hệ không thể thay đổi trong ngày một ngày hai. Song, mỗi gia đình đều có thể bắt đầu bằng cách nhìn con trai và con gái bằng cùng một niềm vui, cùng một niềm tin vào khả năng trưởng thành của các em. Khi người mẹ không còn phải canh cánh nỗi lo sinh thêm con để đáp lại mong mỏi của người thân, khi con gái không lớn lên với cảm giác mình là niềm hy vọng chưa trọn vẹn của gia đình, bình đẳng giới mới thực sự bén rễ trong đời sống...
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/de-moi-tre-em-duoc-chao-don-3357055.html

