Đề nghị cân nhắc, làm rõ biện pháp cắt điện, nước, internet khi xử lý vi phạm hành chính
Chiều 4/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường, thảo luận về dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).
Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm của đại biểu là việc Chính phủ đề xuất nâng mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, 3 tỷ đồng đối với tổ chức; bổ sung các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính như ngừng cung cấp điện, nước, dịch vụ internet, viễn thông.

Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Lâm Đồng) phát biểu chiều 4/11. Ảnh: Media Quốc hội.
Ngưng cấp điện, nước và các dịch vụ thiết yếu ảnh hưởng lớn đến người dân
Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Lâm Đồng) thể hiện sự tán thành cao với nhiều nội dung trong dự thảo luật, đồng thời đánh giá cao cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ.
Về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu ý kiến của đại biểu, chuyển các biện pháp ngừng cung cấp điện, nước, dịch vụ internet, viễn thông và tạm dừng một số thủ tục liên quan đến phương tiện, từ nhóm biện pháp cưỡng chế sang nhóm biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính; đồng thời bổ sung các quy định cụ thể về điều kiện, thẩm quyền, trình tự áp dụng.
Tuy nhiên, ông Mai đề nghị tiếp tục cân nhắc hai vấn đề. Một là cho phép áp dụng biện pháp ngừng cung cấp dịch vụ khi tổ chức, cá nhân đã được yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm bằng văn bản nhưng không chấp hành.
Như vậy, biện pháp này có thể được áp dụng ngay trong quá trình xử lý trước khi có quyết định xử phạt. Trong khi đó, điện, nước và hạ tầng viễn thông là một trong những dịch vụ thiết yếu.
"Việc ngừng cung cấp có thể ảnh hưởng không chỉ đối với người vi phạm mà còn đến người lao động, khách hàng và các chủ thể khác cùng sử dụng công trình, hạ tầng", ông Mai lo ngại.
Mặc dù dự thảo đã bổ sung nguyên tắc giới hạn phạm vi áp dụng và chỉ thực hiện khi không còn biện pháp nào khác, nhưng đại biểu đề nghị quy định chặt chẽ hơn về căn cứ xác định sự cần thiết, phạm vi tác động, thời hạn áp dụng, bảo đảm không làm gián đoạn các dịch vụ thiết yếu về quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba; đồng thời quy định rõ trách nhiệm khôi phục dịch vụ kịp thời khi căn cứ áp dụng không còn.

Đại biểu Lê Hữu Trí (Đoàn Khánh Hòa). Ảnh: Media Quốc hội.
Đại biểu Lê Hữu Trí (Đoàn Khánh Hòa) cho rằng đây là biện pháp có tác động rất lớn, không chỉ đối với tổ chức vi phạm mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động, người dân sinh sống trong khu vực và các chủ thể không có hành vi vi phạm.
Ông Trí đề nghị cần làm rõ 4 nội dung. Một là, chỉ áp dụng biện pháp này đối với những hành vi vi phạm được quy định cụ thể trong luật, có tính chất nghiêm trọng, gây nguy cơ hoặc hậu quả rõ ràng và không giao quy định quá rộng cho các văn bản dưới luật.
Hai là, phải xác định rõ điều kiện, trình tự, thời hạn ngừng cung cấp và trách nhiệm của cơ quan ra quyết định ngừng cung cấp dịch vụ.
Ba là, phải có cơ chế bảo vệ người dân, người lao động và các tổ chức không vi phạm nhưng cùng sử dụng chung hệ thống điện, nước; có phương án xử lý đối với các trường hợp đặc biệt liên quan đến bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe và các nhu cầu thiết yếu khác.
Bốn là, cần quy định rõ việc khôi phục cung cấp dịch vụ ngay khi các căn cứ áp dụng biện pháp không còn hoặc khi quyết định bị hủy bỏ, đồng thời có cơ chế bồi thường nếu việc áp dụng trái pháp luật gây thiệt hại.
"Biện pháp này phải nhằm ngăn chặn, chấm dứt vi phạm, không được trở thành công cụ gây o ép hoặc tạo ra những hệ lụy lớn hơn chính hành vi vi phạm cần xử lý", đại biểu Trí nhấn mạnh.
Đề nghị giữ nguyên thời hiệu xử phạt 1 năm như hiện hành
Quan tâm đến thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, đại biểu Nguyễn Trường Giang, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, đánh giá cao cơ quan chủ trì soạn thảo đã rất cầu thị, lắng nghe, tiếp thu, chỉnh lý quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về trật tự giao thông đường bộ giảm từ 3 năm như đề xuất ban đầu xuống còn 2 năm (Luật hiện hành là 1 năm).
Tuy nhiên, đại biểu vẫn đề nghị tiếp tục xem xét giảm thời hiệu xử lý vi phạm hành chính về trật tự giao thông đường bộ là 1 năm, tức giữ nguyên như quy định hiện hành.
Đi vào phân tích cụ thể, đại biểu Nguyễn Trường Giang nhấn mạnh, một trong các nguyên tắc của xử lý vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều 3 của dự thảo luật đó là: Mọi hành vi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan.

Đại biểu Nguyễn Trường Giang phát biểu. Ảnh: Media Quốc hội.
Dẫn thông tin báo chí, ông Giang cho biết có một số trường hợp vi phạm vài chục lần, hay có trường hợp xe chở tải trọng lớn ở tỉnh Gia Lai vi phạm chạy quá tốc độ 32 lần bị phát hiện qua hệ thống camera giám sát trong khoảng thời gian từ ngày 15/6 đến ngày 14/8.
"Vi phạm hành chính cần phải được xử lý kịp thời để nhanh chóng lập lại trật tự quản lý hành chính Nhà nước, đồng thời có tác dụng răn đe và giáo dục người vi phạm", ông Giang nêu quan điểm.
Bên cạnh đó, theo đại biểu, việc tăng thời hiệu xử phạt tạo thuận lợi cho cơ quan Nhà nước nhưng sẽ ảnh hưởng đến quyền của tổ chức, cá nhân, có thể dẫn tới tình trạng chậm trễ trong phát hiện, xử lý vi phạm hành chính.
"Việc không xử lý kịp thời hành vi vi phạm có thể dẫn tới người vi phạm tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm với lỗi vô ý khi đó người vi phạm sẽ bị áp dụng tình tiết tăng nặng vi phạm hành chính nhiều lần", đại biểu nói.
Ngoài ra, với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số như hiện nay, việc xử lý vi phạm hành chính sẽ được thực hiện một cách nhanh chóng hơn, nên việc đề xuất tăng thời hiệu là không phù hợp.

Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi phát biểu. Ảnh: Media Quốc hội.
Mức phạt cần tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm
Về mức phạt tiền, dự thảo đã nâng mức phạt tiền tối đa từ 1 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân và từ 2 tỷ đồng lên 3 tỷ đồng đối với tổ chức. Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi, Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long đồng tình với việc cần điều chỉnh mức phạt để bảo đảm tính răn đe, tương xứng với lợi ích bất hợp pháp mà người vi phạm thu được, nhất là đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường, vi phạm an toàn thực phẩm, phòng cháy chữa cháy và những lĩnh vực có nguy cơ gây thiệt hại lớn cho cộng đồng.
"Tuy nhiên, cần phân biệt rất rõ giữa tăng mức phạt để tăng tính răn đe và tăng mức phạt nhưng không bảo đảm khả năng thi hành", đại biểu Yến Nhi nói.
Theo đại biểu, một quyết định xử phạt có mức tiền rất cao nhưng người vi phạm không có khả năng chấp hành hoặc tìm cách né tránh, kéo dài việc thi hành thì mục tiêu quản lý nhà nước vẫn không đạt được.
Ngược lại, nếu mức phạt không được tính toán tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm và điều kiện kinh tế của từng nhóm đối tượng, có thể tạo thêm gánh nặng cho hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và người dân.
Vì vậy, khi quy định khung tiền phạt đối với từng lĩnh vực, các văn bản dưới luật cần đánh giá tác động trên cơ sở ít nhất 3 yếu tố: Mức độ nguy hiểm của hành vi; Lợi ích bất hợp pháp thu được; Khả năng thực tế của việc thi hành quyết định xử phạt.
Đặc biệt, cần ưu tiên áp dụng đồng bộ các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc xử lý ô nhiễm, buộc phá dỡ công trình vi phạm, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp.
"Trong nhiều trường hợp, điều quan trọng không chỉ là thu được tiền phạt mà quan trọng hơn là khắc phục được hậu quả và chấm dứt hành vi vi phạm", đại biểu nói.
Đại biểu Lê Hữu Trí đồng tình với việc đối với những hành vi vi phạm có tính chất nghiêm trọng, gây hậu quả lớn, thu lợi bất chính cao thì cần có chế tài đủ sức răn đe. Tuy nhiên, việc tăng mức phạt phải dựa trên đánh giá thực tiễn, không nên chỉ căn cứ vào yêu cầu tăng cường quản lý nhà nước.
"Một mức phạt quá cao không tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm và khả năng thực hiện của đối tượng có thể dẫn đến hệ quả bất lợi, nhất là đối với hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ, người dân có hoàn cảnh khó khăn", đại biểu Trí nói.

