Đề xuất cấm bán thuốc lá cho người sinh từ năm 2010 trở đi
Cho rằng cần sửa Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá theo hướng quyết liệt hơn, TS.BS Nguyễn Trung Nguyên – Giám đốc Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai đề xuất cấm bán thuốc lá cho thế hệ sinh từ năm 2010 trở đi. Theo ông, đây là mốc phù hợp về quản lý độ tuổi, có tính khả thi và có thể giúp ngăn chặn lớp người hút thuốc mới trong tương lai.
Phát biểu tại Hội thảo truyền thông chính sách của Dự án Luật sửa đổi, bổ dung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, do Cục Quản lý khám chữa bệnh (Bộ Y tế) tổ chức sáng nay, 27/2, tại Hà Nội, ở góc độ chuyên môn điều trị, TS.BS Nguyễn Trung Nguyên – Giám đốc Trung tâm chống độc, Bệnh viện Bạch mai khẳng định: Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong có thể phòng tránh được trên toàn cầu. Dù là thuốc lá điếu truyền thống, thuốc lá điện tử hay các sản phẩm thuốc lá mới, tất cả đều gây hại cho sức khỏe và không có mức độ sử dụng nào được coi là an toàn.
Theo ông, khói thuốc lá chứa hơn 7.300 hóa chất, trong đó có ít nhất 70 chất gây ung thư và nhiều chất có khả năng làm tổn thương ADN. Các chất độc như formaldehyde, benzen, carbon monoxide cùng nhiều hợp chất khác không chỉ gây ung thư mà còn làm tổn thương hệ tim mạch, hô hấp, sinh sản và nhiều cơ quan khác trong cơ thể.
Mỗi năm Việt Nam ghi nhận hơn 100.000 ca tử vong liên quan đến thuốc lá, cao gấp 10 lần so với số ca tử vong do tai nạn giao thông.
Ông Nguyên cũng phân tích cơ chế gây nghiện của nicotine khi tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương, làm thay đổi dẫn truyền thần kinh và tạo cảm giác hưng phấn giả tạo. Khi ngừng sử dụng, người hút có thể xuất hiện hội chứng cai nhưng không gây tử vong và hoàn toàn có thể được hỗ trợ bằng các biện pháp y tế phù hợp.
Theo ông, nghiện thuốc lá chủ yếu là vấn đề lệ thuộc hành vi và sinh học, song hoàn toàn có thể can thiệp nếu có chính sách đủ mạnh.
TS.BS Nguyễn Trung Nguyên cho rằng, cần sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá theo hướng quyết liệt hơn. Ông đề cập đến đề xuất cấm bán thuốc lá cho thế hệ sinh sau một mốc thời gian nhất định, ví dụ những người sinh từ năm 2010 trở đi. Theo ông, đây là mốc phù hợp về mặt quản lý độ tuổi, có thể triển khai trong thực tiễn và giúp ngăn chặn lớp người hút thuốc mới hình thành trong tương lai.
Bên cạnh đó, ông cho rằng chỉ quy định cấm bán cho người dưới 18 tuổi là chưa đủ hiệu quả, bởi thực tế tỉ lệ hút thuốc tăng mạnh khi bước qua độ tuổi vị thành niên. Vì vậy, cần có biện pháp quản lý chặt chẽ hơn đối với hoạt động kinh doanh, mua bán thuốc lá; đồng thời kiểm soát tốt việc tiếp cận của thanh thiếu niên.
Ông cũng nhấn mạnh Việt Nam đã có đủ bằng chứng khoa học và điều kiện thực tiễn để hành động mạnh mẽ hơn. Việc sửa luật lần này không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật mà là cơ hội để giải quyết tận gốc vấn đề, giảm số người hút mới, giảm tử vong và gánh nặng bệnh tật trong tương lai.
Theo ông Nguyễn Trung Nguyên, nếu đã có đầy đủ dữ liệu về tác hại mà vẫn chậm trễ trong chính sách, chúng ta sẽ không hoàn thành trách nhiệm bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, cần tận dụng thời điểm sửa luật để đưa ra các giải pháp đủ mạnh, khả thi và mang tính dài hạn.
Cân nhắc loại bỏ hoàn toàn các khu vực dành riêng cho hút thuốc
Trong khi đó, từ góc nhìn quốc tế, ThS.BS Nguyễn Tuấn Lâm – đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam cho rằng, quyết định cấm thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng của Quốc hội Việt Nam là “kịp thời và sáng suốt”, phù hợp với bằng chứng khoa học và xu hướng quốc tế.
Dẫn nghiên cứu phân tích dữ liệu Khảo sát thuốc lá thanh thiếu niên toàn cầu (GYTS) tại 75 quốc gia, ông Lâm cho biết các quốc gia cho phép thuốc lá điện tử có tỷ lệ sử dụng trung bình cao gấp 1,8 lần so với các quốc gia chưa có quy định; trong khi các quốc gia cấm hoàn toàn có tỷ lệ sử dụng chỉ bằng 0,6 lần so với nhóm không có quy định. Theo cập nhật của WHO năm 2026, hiện có 47 quốc gia đã cấm thuốc lá điện tử và 27 quốc gia cấm thuốc lá nung nóng, trong đó có Việt Nam.

ThS.BS Nguyễn Tuấn Lâm – đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam phát biểu tại Hội thảo (Ảnh: Thanh Hà).
Cũng theo ông Lâm, sau khi Nghị quyết 173 có hiệu lực, Việt Nam đã ghi nhận những tín hiệu tích cực ban đầu: số ca cấp cứu liên quan thuốc lá điện tử giảm đáng kể; hiện tượng quảng cáo công khai bởi người có ảnh hưởng hầu như không còn; các vụ buôn bán đã bắt đầu bị xử lý hình sự. Khảo sát sơ bộ tại ba thành phố cho thấy tỷ lệ sử dụng ở nhóm 13–17 tuổi và 18–24 tuổi giảm mạnh.
Tuy nhiên, ông Lâm cảnh báo ngành công nghiệp thuốc lá liên tục thay đổi thiết kế, đa dạng hóa sản phẩm và hương vị để tăng sức hấp dẫn. Hiện có hơn 16.000 loại hương vị khác nhau được sử dụng trong thuốc lá điện tử, làm gia tăng nguy cơ thu hút thanh thiếu niên.
Đáng lo ngại, tình trạng pha trộn ma túy tổng hợp vào dung dịch thuốc lá điện tử đã được ghi nhận. Riêng năm 2023, Việt Nam có hơn 1.200 ca cấp cứu liên quan thuốc lá điện tử (theo báo cáo từ 700 bệnh viện), trong đó nhiều trường hợp phát hiện có ma túy trong mẫu sản phẩm.
Ở nội dung môi trường không khói thuốc, đại diện WHO nhấn mạnh hướng dẫn thực thi Điều 8 Công ước khung về kiểm soát thuốc lá (FCTC) yêu cầu môi trường 100% không khói thuốc vì không có mức độ phơi nhiễm nào là an toàn. Các giải pháp như thông gió, lọc không khí hay bố trí khu vực hút thuốc riêng trong nhà đều không bảo vệ được người không hút thuốc.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy môi trường không khói thuốc giúp giảm nhập viện do nhồi máu cơ tim, cải thiện chất lượng không khí trong nhà, giảm tỷ lệ hút thuốc từ 4–10% và thậm chí giảm tới 29% lượng tiêu thụ theo một số nghiên cứu tổng hợp.
Từ kinh nghiệm quốc tế, ông Nguyễn Tuấn Lâm khuyến nghị Việt Nam cần cân nhắc loại bỏ hoàn toàn các khu vực dành riêng cho hút thuốc trong nhà và trên các phương tiện giao thông. Đồng thời, quy định môi trường không khói thuốc trên toàn bộ khuôn viên trường đại học và làm rõ danh sách các địa điểm có nguy cơ cháy nổ cao để bảo đảm áp dụng quy định phù hợp.
Ông cũng đề xuất giao một đơn vị chịu trách nhiệm thực thi chính, tăng cường các chiến dịch giám sát và xử phạt vi phạm môi trường không khói thuốc, trong đó chú trọng xử phạt chủ cơ sở. Bên cạnh đó, cần có các sáng kiến và giải pháp mới, đặc biệt là giải pháp số hóa nhằm nâng cao hiệu quả thực thi, như thiết lập đường dây nóng hoặc ứng dụng phản ánh vi phạm.













