Đề xuất chính sách mới hỗ trợ học sinh, sinh viên và giảng viên học tập tại nước ngoài
Bộ Giáo dục và Đào tạo kiến nghị xây dựng nghị định nhằm hỗ trợ học sinh, sinh viên và giảng viên đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài. Đây được coi là một trong những công cụ chính sách bản lề trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực khoa học công nghệ quốc gia...

Bộ Giáo dục và Đào tạo kiến nghị xây dựng nghị định với các chính sách khuyến khích, hỗ trợ kèm theo nguyên tắc, tiêu chí, điều kiện xác định đối tượng được hưởng. Ảnh minh họa: VGP.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hoàn tất hồ sơ dự thảo Nghị định quy định chính sách khuyến khích, hỗ trợ học sinh, sinh viên, giảng viên đi học tập, nghiên cứu, thỉnh giảng và trao đổi học thuật ở các nước phát triển, các nước có quan hệ truyền thống, có thế mạnh trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm. Hồ sơ được chuyển sang Bộ Tư pháp để thẩm định.
KIẾN NGHỊ GỠ “NÚT THẮT” TÀI CHÍNH
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong xu thế hiện nay, việc cử học sinh, sinh viên, giáo viên và giảng viên đi học tập, nghiên cứu, thỉnh giảng ở nước ngoài đã trở thành một trong những công cụ chính sách mang tầm vóc chiến lược, đóng vai trò bản lề trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực khoa học công nghệ quốc gia.
Thực tiễn triển khai các đề án như Đề án 599, Đề án 911, Đề án 89…. mang tính phân tán và thiếu đồng bộ. Do đó, việc xây dựng nghị định nhằm bao quát cả bốn nhóm đối tượng từ bậc phổ thông đến đại học, đồng thời điều chỉnh cả hai hình thức đào tạo ngắn hạn và dài hạn. Đây là yêu cầu mang tính cấp thiết và tiên quyết.

Thống kê số giảng viên/cán bộ quản lý đại học, sinh viên được cử đi học tập, nghiên cứu tại nước ngoài giai đoạn 2021-2025. Nguồn: dự thảo báo cáo khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Khảo sát cho thấy, giai đoạn từ 2021- 2025, có 13.937 sinh viên và giảng viên/cán bộ quản lý đại học được cử đi. Biểu đồ tăng trưởng cho thấy sự bứt phá từ 272 lượt (năm 2021) lên 4.728 lượt (năm 2025). Mức tăng đột biến trong năm 2022 (286,8%) và 2023 (193,6%) được lý giải từ sự bùng nổ của các nhu cầu học tập sau một thời gian dài bị ngưng trệ do đại dịch Covid.
Tuy nhiên đến năm 2025 đánh dấu điểm nghẽn khi lần đầu tiên ghi nhận sự sụt giảm (-1,4%) đến từ nhóm sinh viên đào tạo dài hạn.

Nguồn: dự thảo báo cáo khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá, điều này cho thấy khả năng nội lực trong việc tự vận động, tự tìm kiếm học bổng và tự chi trả của các cơ sở giáo dục đại học đã chạm đến giới hạn.
“Nếu không có sự can thiệp từ khung chính sách tài chính của Nhà nước, các chương trình dài hạn mang tính chuyên sâu sẽ bị thu hẹp, nhường chỗ cho các hoạt động ngắn hạn mang tính bề nổi”, báo cáo chỉ rõ.
Kết quả cũng cho thấy sự mất cân bằng vùng miền giữa các đại học lớn ở trung tâm đô thị có tiềm lực với một bên là các trường địa phương hạn chế các kế hoạch phát triển do thiếu hụt cả về nguồn lực tài chính và cơ hội kết nối.
Qua khảo sát, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhận thấy kinh phí và nguồn tài chính hạn chế là một trong những nguyên nhân chiếm đến 64,6%. Mức hỗ trợ từ các đề án ngân sách được quy định từ nhiều năm trước, chưa kịp thời thay đổi theo tỷ lệ lạm phát và tăng chi phí sinh hoạt tại các nước phát triển…

Một trong các nhóm khó khăn được đề cập bởi các cơ sở giáo dục đại học. Nguồn: dự thảo báo cáo khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Để tháo gỡ vướng mắc trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo kiến nghị xây dựng nghị định với các chính sách khuyến khích, hỗ trợ kèm theo nguyên tắc, tiêu chí, điều kiện xác định đối tượng được hưởng.
Về chính sách hỗ trợ, người học được hưởng bảo hiểm y tế, học phí; sinh hoạt phí hằng tháng bằng 1,5 lần mức sinh hoạt phí cao nhất đối với người học trình độ đại học và bằng 2,0 lần đối với người học trình độ thạc sĩ, tiến sĩ…
Đối với giảng viên, mức cấp sinh hoạt phí hằng tháng bằng mức sinh hoạt phí cao nhất đang áp dụng đối với công dân Việt Nam đi học ở nước ngoài theo các đề án, chương trình học bổng của Chính phủ Việt Nam…
XÁC ĐỊNH RÕ CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC TRỌNG ĐIỂM
Theo dự thảo Nghị định, người học, giảng viên chỉ được hưởng chính sách khi đáp ứng đồng thời tiêu chí về nước, ngành, lĩnh vực trọng điểm và các điều kiện cụ thể.
Trường hợp một đối tượng thuộc phạm vi của nhiều chính sách thì được hưởng chính sách có mức hỗ trợ cao nhất…
Các ngành, lĩnh vực trọng điểm được xác định là ngành, lĩnh vực cần ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài, đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học và chuyên gia.
Trong đó ưu tiên các ngành, lĩnh vực, công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật và các danh mục do cấp có thẩm quyền ban hành.
Góp ý dự thảo, Học viện Khoa học Xã hội đề nghị cho phép các cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ trích lập Quỹ hỗ trợ hội nhập quốc tế từ nguồn thu hợp pháp để cấp bù, đồng tài trợ cho người đi học, nhằm giải phóng nguồn lực tự chủ và san sẻ gánh nặng ngân sách.
Cơ quan soạn thảo cho biết tiếp thu và bổ sung vào khoản 2, điều 11: “Khuyến khích cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp sử dụng nguồn thu hợp pháp của đơn vị để hỗ trợ thêm cho người học, giảng viên thuộc đối tượng áp dụng của Nghị định này.”
Việc trích lập và sử dụng các quỹ của đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
Đối với người học, cơ sở giáo dục nước ngoài theo học phải thuộc nhóm 500 cơ sở giáo dục hàng đầu thế giới theo các bảng xếp hạng quốc tế có uy tín hoặc thuộc nhóm 500 cơ sở giáo dục hàng đầu thế giới về ngành, lĩnh vực trọng điểm tương ứng theo các bảng xếp hạng quốc tế có uy tín theo ngành, lĩnh vực tại thời điểm cấp có thẩm quyền phê duyệt danh sách trúng tuyển hoặc quyết định cử đi học.
