Đề xuất cơ chế đột phá cho năng lượng tái tạo ngoài khơi và các ngành kinh tế biển mới
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) với 4 nhóm chính sách lớn nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hoàn thiện cơ chế quản lý không gian biển và tạo động lực phát triển các ngành kinh tế biển mới. Trong đó, một trong những điểm nhấn đáng chú ý là việc đề xuất các cơ chế, chính sách đột phá để thúc đẩy năng lượng tái tạo ngoài khơi và các lĩnh vực kinh tế biển có tiềm năng trong tương lai.
Thông tin được lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường chia sẻ tại họp báo về chuỗi sự kiện hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới, Ngày Đại dương thế giới, Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2026.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, đặc biệt là những tác động từ các điểm nóng địa chính trị, công tác xây dựng thể chế vẫn được Bộ xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo dư địa phát triển mới cho nền kinh tế.
Năm 2026, Bộ được giao chủ trì sửa đổi hai đạo luật quan trọng là Luật Tài nguyên nước và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; đồng thời nghiên cứu, đề xuất sửa đổi một số nội dung của Luật Đất đai. Đây đều là những dự án luật có phạm vi điều chỉnh rộng, tác động lớn đến hoạt động quản lý nhà nước cũng như môi trường đầu tư, kinh doanh.

Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, Bộ đang nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên biển theo hướng công khai, minh bạch, đồng thời đơn giản hóa thủ tục hành chính để tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tham gia các hoạt động phát triển kinh tế biển.
Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, quá trình rà soát cho thấy vẫn tồn tại tình trạng chồng chéo giữa nhiều quy định pháp luật liên quan đến tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với các lĩnh vực khác. Vì vậy, một trong những mục tiêu quan trọng của đợt sửa đổi lần này là bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tránh tình trạng một vấn đề nhưng nhiều cơ quan cùng quản lý.
Bên cạnh đó, Bộ cũng nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên biển theo hướng công khai, minh bạch hơn; tăng cường phân cấp, phân quyền, đồng thời đơn giản hóa thủ tục hành chính để tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tham gia các hoạt động phát triển kinh tế biển.
Làm rõ hơn những nội dung trọng tâm của dự thảo luật, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản cho biết, quá trình tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam cùng với việc rà soát Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã chỉ ra ba điểm nghẽn lớn cần được tháo gỡ.
Điểm nghẽn đầu tiên là hệ thống thể chế liên quan đến biển hiện đang phân tán ở nhiều luật khác nhau như Luật Biển Việt Nam, Luật Hàng hải, Luật Thủy sản, Luật Dầu khí, Luật Khoáng sản và nhiều văn bản chuyên ngành khác. Sự phân tán này khiến việc quản lý tổng hợp tài nguyên biển và khai thác hiệu quả không gian biển gặp nhiều khó khăn.
Điểm nghẽn thứ hai là cơ chế phân bổ, giao, cho thuê và sử dụng không gian biển vẫn còn bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế biển mới.
Trong khi đó, điểm nghẽn thứ ba liên quan đến yêu cầu ngày càng cao trong kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, bảo vệ hệ sinh thái biển và đa dạng sinh học biển trước áp lực phát triển kinh tế.

Theo Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản, trong dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Bộ đang đề xuất các cơ chế, chính sách đột phá để thúc đẩy năng lượng tái tạo ngoài khơi và các lĩnh vực kinh tế biển có tiềm năng trong tương lai.
Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu xây dựng 4 nhóm chính sách lớn trong dự thảo luật sửa đổi.
Nhóm chính sách đầu tiên là hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp và thống nhất về tài nguyên, môi trường biển trên cơ sở Quy hoạch không gian biển quốc gia đã được Quốc hội thông qua.
Nhóm thứ hai là hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đăng ký và đấu giá quyền sử dụng không gian biển theo hướng công khai, minh bạch, tạo môi trường đầu tư ổn định cho doanh nghiệp.
Đáng chú ý, nhóm chính sách thứ ba được xác định là động lực mới cho tăng trưởng kinh tế biển. Theo đó, dự thảo luật sẽ xây dựng các cơ chế, chính sách đột phá nhằm thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển mới, đặc biệt là năng lượng tái tạo ngoài khơi, lĩnh vực đang được đánh giá có tiềm năng rất lớn tại Việt Nam.
Các chuyên gia nhận định Việt Nam sở hữu vùng biển rộng lớn với điều kiện thuận lợi để phát triển điện gió ngoài khơi và các mô hình năng lượng xanh. Tuy nhiên, quá trình triển khai thời gian qua vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu hành lang pháp lý đồng bộ về sử dụng không gian biển, giao khu vực biển và cơ chế phối hợp quản lý.
Việc bổ sung các quy định mới được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng pháp lý rõ ràng hơn cho các dự án năng lượng tái tạo ngoài khơi cũng như các ngành kinh tế biển mới có giá trị gia tăng cao, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của đất nước trong giai đoạn tới.
Nhóm chính sách thứ tư tập trung tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, bảo vệ hệ sinh thái và tài nguyên đại dương theo hướng phát triển bền vững.
Lãnh đạo Cục Biển và Hải đảo Việt Nam khẳng định quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng luật là không đánh đổi môi trường biển, hệ sinh thái biển và đa dạng sinh học biển để lấy tăng trưởng kinh tế. Mọi hoạt động phát triển kinh tế biển phải dựa trên nền tảng bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên biển.
Hiện hồ sơ chính sách đã được trình Chính phủ xem xét. Dự kiến trong thời gian tới, dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) sẽ tiếp tục được lấy ý kiến rộng rãi từ các địa phương, doanh nghiệp, chuyên gia và các bên liên quan nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên biển, đồng thời mở ra không gian phát triển mới cho các ngành kinh tế biển trong tương lai.











