Đề xuất cơ sở đào tạo học cách làm chủ công nghệ từ doanh nghiệp

Theo PGS, TS Hoàng Tùng, Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, viện, trường cần gắn nghiên cứu với nhu cầu sản xuất, học hỏi từ năng lực triển khai công nghệ của doanh nghiệp và tham gia sâu hơn vào các dự án đầu tư công.

Khoảng cách lớn giữa viện, trường và doanh nghiệp

Phát biểu tại tọa đàm “Cơ chế đặt hàng thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Thực tiễn là giải pháp nâng cao hiệu quả” do Viện Nghiên cứu chính sách chiến lược tổ chức sáng 29/10, PGS, TS Hoàng Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội (HUCE) cho rằng các nhiệm vụ nghiên cứu hợp tác giữa viện, trường và doanh nghiệp thường tập trung vào từng hạng mục riêng lẻ, chưa hình thành quy trình phát triển công nghệ liên tục.

PGS, TS Hoàng Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội phát biểu tại tọa đàm. Ảnh: HT.

PGS, TS Hoàng Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội phát biểu tại tọa đàm. Ảnh: HT.

Trong khi đó, khoảng cách giữa doanh nghiệp và viện, trường về mức độ sẵn sàng công nghệ, khả năng làm chủ tiêu chuẩn và tốc độ thích ứng đang khá lớn.

Ông Hoàng Tùng lấy ví dụ trong lĩnh vực kết cấu thép, doanh nghiệp Việt Nam như Đại Dũng đã tự chủ 100% từ khâu thiết kế, chế tạo đến thi công các công trình lớn hàng đầu thế giới theo tiêu chuẩn quốc tế. Trong chuyển đổi số xây dựng, Portcoast đầu tư các thiết bị khảo sát 3D, mô hình bản sao số (Digital Twin) hiện đại nhất châu Á. Nhờ đó, họ có thể hoàn thành việc khảo sát 82 tuyến đường thủy, với chiều dài 523km, quy mô 5.500 ha vốn có thể phải kéo dài 5-6 năm xuống còn gần 1 năm. Trong khi đó, theo ông Tùng, một số cơ sở nghiên cứu vẫn gặp khó khăn khi xác định công nghệ và hệ thống tiêu chuẩn áp dụng cho các dự án lớn.

Ví von doanh nghiệp như một vận động viên to khỏe, đang hướng nhanh tới đích, viện, trường như một vận động viên nhỏ bé bị bỏ lại phía sau, PGS, TS Hoàng Tùng ngậm ngùi: “Doanh nghiệp đã đi rất xa và nhanh với tiềm lực mạnh. Doanh nghiệp cũng chấp nhận thay đổi cực nhanh, khiến cơ sở nghiên cứu khó theo kịp nếu cứ duy trì cách làm cũ”.

Một điểm nghẽn khác là việc triển khai dự án đầu tư công chưa gắn chặt với nhiệm vụ nghiên cứu, tiếp nhận và làm chủ công nghệ.

Ông Tùng lấy ví dụ về cách Trung Quốc phát triển đường sắt cao tốc. Nước này coi đây là một chương trình quốc gia về tiếp nhận và làm chủ công nghệ. Họ huy động đồng bộ 6 doanh nghiệp trung ương, 25 trường đại học và 11 viện nghiên cứu cùng tham gia "mổ xẻ", tháo dỡ, giải mã, hấp thụ và cải tiến toàn bộ công nghệ đoàn tàu nhập khẩu từ nước ngoài.

Trong khi đó tại Việt Nam, các dự án đầu tư công thường chỉ tập trung vào xây lắp và mua sắm thiết bị; hợp phần nâng cao năng lực thể chế cho các trường đại học, viện nghiên cứu công lập lại bị coi nhẹ hoặc không được cho phép tham gia.

“Mỗi một dự án đầu tư công trọng điểm là cả một bầu trời công nghệ. Nhưng đáng tiếc là chúng ta đã tách rời việc đó ra. Vì thế, chẳng hạn với đường sắt đô thị, Việt Nam, sau nhiều đại dự án vẫn chưa làm chủ được công nghệ này”, PGS, TS Hoàng Tùng nhận xét.

Ông Tùng cho rằng cần xem các dự án trọng điểm là cơ hội để doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học cùng tham gia giải mã, thử nghiệm và cải tiến công nghệ.

Định vị lại vai trò của viện, trường trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Theo PGS, TS Hoàng Tùng, viện, trường cần đánh giá đúng năng lực hiện có, tránh đăng ký những nhiệm vụ vượt quá khả năng thực hiện. Ngoài ra, viện, trường không nên nóng vội chạy theo phát minh hay sáng chế mới khi chưa hiểu sâu công nghệ sẵn có. Quá trình này nên bắt đầu từ việc nghiên cứu nguyên lý, giải mã thiết kế, tự tính toán và thử nghiệm, sau đó tiến tới làm chủ, cải tiến và phát triển công nghệ mới.

Cùng với đó, Nhà nước cần xây dựng thang đánh giá mức độ tự chủ công nghệ và tổ chức đặt hàng theo các chương trình nghiên cứu liên tục. Mục tiêu khi tham gia các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo không chỉ là tạo ra sáng chế mới, sản phẩm mới mà còn phải nâng cao năng lực thực chất (từ thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, vận hành và cải tiến công nghệ).

Ông Tùng cũng đề xuất thay đổi cách giao nhiệm vụ nghiên cứu theo hướng tăng tính liên kết, hạn chế chia nhỏ thành các hạng mục rời rạc. Các kết quả cần được kết nối để hình thành sản phẩm hoàn chỉnh, có khả năng ứng dụng trong sản xuất và đời sống.

Với các dự án đầu tư công trọng điểm, ông Tùng đề xuất tích hợp hợp phần nghiên cứu và nâng cao năng lực công nghệ vào các dự án này. Việc sử dụng nguồn vốn đầu tư công để buộc doanh nghiệp thụ hưởng phải "mở cửa" cho viện, trường cùng tham gia đồng hành là con đường “ngắn nhất và rẻ nhất” để cán bộ nghiên cứu tiếp cận công nghệ đỉnh cao.

Để thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất, ông Hoàng Tùng cho rằng cần thúc đẩy mô hình hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhà trường. Trong đó, Nhà nước xác định các công nghệ cần làm chủ, xây dựng hành lang pháp lý, bố trí nguồn lực và đặt hàng các bài toán lớn.

Doanh nghiệp đảm nhận vai trò đầu tư, ứng dụng công nghệ vào sản xuất và tạo môi trường thực tiễn để giảng viên, nhà nghiên cứu tiếp cận quy trình vận hành. Viện, trường tập trung nghiên cứu nguyên lý, giải mã công nghệ, tích lũy năng lực và cung cấp nền tảng khoa học cho doanh nghiệp.

“Doanh nghiệp chính là một 'nhà trường' rất lớn đối với các giảng viên và nghiên cứu viên của chúng tôi. Kiến thức thực tiễn không thể đến từ nhà trường mà phải đến từ doanh nghiệp; ngược lại, kiến thức lý thuyết cơ bản nên đến từ nhà trường. Quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp phải là quan hệ cộng sinh, vừa đặt hàng vừa phối hợp để cùng đi với nhau”, PGS, TS Hoàng Tùng nhận định.

Định vị lại vai trò của viện, trường là một bước lùi cần thiết để nhìn vào thực chất và tiến những bước dài hơn. Khi viện, trường rũ bỏ tâm lý "tinh hoa", kiên trì giải mã công nghệ, coi doanh nghiệp là trường học thực chiến và được tham gia trực tiếp vào các đại dự án đầu tư công của Nhà nước, nền khoa học và công nghệ Việt Nam mới có thể xây dựng được năng lực tự chủ công nghệ chiến lược bền vững cho tương lai.

Hiền Thảo

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/cong-nghe/de-xuat-co-so-dao-tao-hoc-cach-lam-chu-cong-nghe-tu-doanh-nghiep/20261029114210570