Đề xuất quy định tính lương theo năng suất lao động

Theo dự thảo Thông tư hướng dẫn về tính tiền lương, yếu tố khách quan có thể ảnh hưởng đến năng suất lao động, cần được xem xét khi xác định tiền lương.

Quản lý lao động, thang lương và bảng lương

Bộ Nội vụ đang dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng trong doanh nghiệp nhà nước. Thông tư nêu rõ việc quản lý tiền lương, thù lao và tiền thưởng của doanh nghiệp được thực hiện theo quy định tại Điều 3 của Nghị định 44/2025/NĐ-CP.

Một nguyên tắc quan trọng là năng suất lao động phải được tính toán theo hướng dẫn chi tiết trong phụ lục kèm theo. Đồng thời, các yếu tố khách quan có thể ảnh hưởng đến năng suất lao động, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận cũng cần được xem xét khi xác định tiền lương, thù lao. Những yếu tố này có thể bao gồm biến động thị trường, chính sách nhà nước, thiên tai, dịch bệnh hoặc các yếu tố bất khả kháng khác.

Bộ Nội vụ đang dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện quản lý lao động, tiền lương. Ảnh minh họa

Bộ Nội vụ đang dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện quản lý lao động, tiền lương. Ảnh minh họa

Nếu yếu tố khách quan làm tăng năng suất lao động, lợi nhuận hoặc tỷ suất lợi nhuận, khi xác định tiền lương, doanh nghiệp phải giảm trừ mức tương ứng. Ngược lại, nếu yếu tố khách quan làm giảm năng suất lao động, lợi nhuận hoặc tỷ suất lợi nhuận, doanh nghiệp được phép cộng thêm phần ảnh hưởng này vào quá trình tính toán tiền lương. Quy định này giúp đảm bảo tiền lương phản ánh đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tránh tình trạng tiền lương tăng cao bất hợp lý trong khi doanh nghiệp không thực sự đạt hiệu suất tốt.

Dự thảo cũng đưa ra các quy định về quản lý lao động, thang lương và bảng lương. Theo đó, doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch lao động, thực hiện tuyển dụng và áp dụng các chế độ, chính sách đối với người lao động theo quy định tại Điều 5 của Nghị định. Việc này nhằm đảm bảo doanh nghiệp có kế hoạch sử dụng nhân lực hợp lý, tránh tình trạng thiếu hoặc dư thừa lao động, đồng thời đảm bảo quyền lợi của người lao động.

Việc xây dựng và ban hành thang lương, bảng lương, phụ cấp lương phải tuân thủ theo quy định tại Điều 6 của Nghị định. Nếu doanh nghiệp đã có hệ thống thang lương, bảng lương phù hợp với quy định, họ có thể tiếp tục áp dụng. Tuy nhiên, nếu hệ thống thang bảng lương hiện tại chưa đáp ứng quy định, doanh nghiệp cần phải sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới để đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật.

Xác định quỹ tiền lương và điều chỉnh theo tình hình lợi nhuận

Dự thảo cũng quy định về cách xác định quỹ tiền lương trong doanh nghiệp. Theo đó, quỹ tiền lương có thể được xác định dựa trên mức lương bình quân hoặc đơn giá tiền lương ổn định. Trong trường hợp áp dụng đơn giá tiền lương ổn định, đơn giá này được xác định bằng tổng quỹ tiền lương thực hiện của các năm trước chia cho tổng giá trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong cùng giai đoạn.

Tổng quỹ tiền lương là tổng số tiền lương thực tế đã chi trả cho người lao động và Ban điều hành trong các năm trước, trong khi tổng giá trị sản xuất, kinh doanh có thể được tính theo tổng doanh thu, tổng sản phẩm hoặc lợi nhuận, tùy thuộc vào đặc thù của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể lựa chọn khoảng thời gian tham chiếu từ hai đến năm năm để tính đơn giá tiền lương.

Sau khi xác định đơn giá tiền lương, quỹ tiền lương thực hiện sẽ được tính toán dựa trên tình hình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp trong năm thực hiện. Nếu lợi nhuận của doanh nghiệp trong năm thực hiện không thấp hơn lợi nhuận bình quân của các năm trước, quỹ tiền lương thực hiện sẽ được xác định trên cơ sở quỹ tiền lương theo đơn giá và điều chỉnh theo năng suất lao động. Nếu mức tăng quỹ tiền lương không vượt quá mức tăng năng suất lao động, doanh nghiệp có thể giữ nguyên quỹ tiền lương. Trong trường hợp quỹ tiền lương tăng cao hơn mức tăng năng suất lao động, doanh nghiệp phải điều chỉnh giảm để đảm bảo mức chi trả hợp lý.

Nếu doanh nghiệp có lợi nhuận cao hơn lợi nhuận bình quân, họ có thể được tính thêm tiền lương vào quỹ tiền lương thực hiện. Theo nguyên tắc, nếu lợi nhuận vượt kế hoạch, doanh nghiệp có thể tăng quỹ tiền lương theo tỷ lệ nhất định. Cụ thể, nếu lợi nhuận tăng 1%, quỹ tiền lương có thể tăng tối đa 2%, nhưng không vượt quá 20% phần lợi nhuận vượt kế hoạch. Ngoài ra, phần tiền lương tăng thêm cũng không được vượt quá hai tháng lương bình quân thực tế.

Trong trường hợp doanh nghiệp có lợi nhuận thấp hơn lợi nhuận bình quân, quỹ tiền lương theo đơn giá sẽ bị giảm trừ theo tỷ lệ hoặc giá trị tuyệt đối của phần lợi nhuận giảm. Sau khi điều chỉnh, quỹ tiền lương thực hiện không được thấp hơn mức lương tính toán dựa trên số lao động thực tế và mức lương theo chế độ quy định. Nếu doanh nghiệp không có lợi nhuận hoặc bị lỗ, quỹ tiền lương sẽ được xác định dựa trên số lao động thực tế và mức lương theo quy định. Nếu doanh nghiệp có mức lỗ giảm so với năm trước, họ có thể được xem xét điều chỉnh quỹ tiền lương nhưng cần có sự chấp thuận của cơ quan đại diện chủ sở hữu.

Lợi nhuận bình quân được tính dựa trên lợi nhuận thực hiện trung bình của các năm mà doanh nghiệp dùng để tính quỹ tiền lương. Việc xác định lợi nhuận bình quân giúp tránh sự biến động quá lớn trong quỹ tiền lương do sự thay đổi của lợi nhuận hàng năm.

Dự thảo Nghị định 44/2025/NĐ-CP đưa ra các nguyên tắc chi tiết nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng trong việc quản lý lao động và tiền lương tại doanh nghiệp. Các quy định về tiền lương không chỉ dựa vào hiệu suất làm việc mà còn xét đến các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến năng suất lao động và lợi nhuận của doanh nghiệp.

Lê An

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/de-xuat-quy-dinh-tinh-luong-theo-nang-suat-lao-dong-381098.html