Dệt may chủ động thích ứng với tình hình mới, giữ vững năng lực cạnh tranh

Những thay đổi trong chính sách thuế quan của Hoa Kỳ đang tạo ra áp lực và làm thay đổi tương quan cạnh tranh trong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu.

Trước bối cảnh đó, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đẩy mạnh xây dựng kịch bản ứng phó, nâng cao năng lực quản trị, đa dạng hóa thị trường và đầu tư chiều sâu nhằm duy trì tăng trưởng, bảo đảm hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2026.

Chủ động đánh giá tác động, thích ứng với thay đổi chính sách thuế quan

Ngày 24/7/2026 (giờ Việt Nam), Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã ban hành Kết luận cuối cùng trong vụ việc điều tra theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với 60 nền kinh tế về việc chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả quy định cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức.

Theo quyết định cuối cùng, 60 nền kinh tế được chia thành ba nhóm thuế, 17 nền kinh tế, trong đó có Ấn Độ, Indonesia và Ecuador, chịu mức thuế bổ sung 10%. EU, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc và Thụy Sỹ được áp dụng cơ chế khấu trừ thuế Tối Huệ Quốc - MFN, để tổng thuế MFN và thuế Mục 301 không vượt mức 10% hoặc 12,5%. Việt Nam thuộc nhóm còn lại, chịu mức thuế Mục 301 cao nhất là 12,5%.

Doanh nghiệp dệt may chủ động tìm kiếm thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh để thích ứng với biến động thế giới.

Doanh nghiệp dệt may chủ động tìm kiếm thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh để thích ứng với biến động thế giới.

TS. Hoàng Mạnh Cầm, Chánh Văn phòng HĐQT Vinatex cho biết, cấu trúc thuế mới làm thay đổi tương quan cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu dệt may. Chênh lệch thuế không chỉ tác động đến hàng may mặc thành phẩm mà còn có thể thúc đẩy sự dịch chuyển đơn hàng và chuỗi cung ứng đối với sợi, vải và nguyên liệu. Do đó, doanh nghiệp cần đánh giá tác động theo từng nhóm sản phẩm, thị trường và vị trí trong chuỗi giá trị, thay vì chỉ so sánh mức thuế bình quân giữa các quốc gia.

TS. Hoàng Mạnh Cầm cho biết, ngoài Section 301, Mỹ có xu hướng mở rộng việc sử dụng các công cụ thuế quan khác. Ngày 20/7/2026, Tổng thống Mỹ công bố áp thuế bổ sung 50% đối với khoảng 20 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Canada theo Section 338 của Đạo luật Thuế quan năm 1930. Biện pháp dự kiến có hiệu lực từ ngày 19/8/2026, áp dụng với nhiều mặt hàng tiêu dùng và công nghiệp, trong đó có quần áo và đồ nội thất; một số nhóm như năng lượng, khoáng sản quan trọng và hàng hóa đã chịu thuế theo Section 232 được loại trừ. Diễn biến này cho thấy chính sách thương mại của Mỹ vẫn tiềm ẩn nhiều bất định và có thể tiếp tục thay đổi theo từng đối tác, ngành hàng và mục tiêu chính sách.

Trong bối cảnh đó, xuất khẩu dệt may Việt Nam vẫn duy trì đà tăng. Tháng 6/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 4,5 tỷ USD; lũy kế sáu tháng đạt khoảng 23 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ nhóm dệt, sợi, trong khi xuất khẩu hàng may mặc chỉ tăng nhẹ.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của dệt may Việt Nam, tiếp theo là EU, Nhật Bản, Trung Quốc và ASEAN. Xuất khẩu sang Trung Quốc và EU tăng khá cho thấy các thị trường trọng điểm đang có dấu hiệu phục hồi, đồng thời phản ánh nỗ lực đa dạng hóa thị trường của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, TS. Hoàng Mạnh Cầm cũng nhấn mạnh, mức tăng trưởng giữa các quốc gia cạnh tranh có sự phân hóa rõ rệt. Trung Quốc tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu thế giới, nhưng cơ cấu xuất khẩu đang chuyển dịch khi dệt, sợi tăng nhanh hơn hàng may mặc. Bangladesh phục hồi mạnh trong tháng 6, trong khi Ấn Độ tiếp tục gặp khó khăn do đơn hàng may mặc suy giảm; Indonesia chỉ duy trì mức tăng trưởng thấp. Diễn biến này cho thấy cạnh tranh không chỉ diễn ra về quy mô xuất khẩu mà ngày càng phụ thuộc vào cơ cấu sản phẩm, lợi thế thuế quan và khả năng thích ứng với sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng.

Tạo nền tảng tăng trưởng bền vững

Chủ tịch HĐQT Vinatex Lê Tiến Trường nhận định, chính sách thuế mới của Hoa Kỳ áp dụng từ ngày 24/7 đã hình thành các tầng thuế quan khác nhau giữa các nền kinh tế, làm thay đổi tương quan cạnh tranh trong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu. Tác động của chính sách này không thể chỉ được đánh giá qua mức thuế bình quân, mà cần phân tích đồng thời thuế MFN, thuế bổ sung thực tế, cơ cấu mặt hàng, nguồn gốc nguyên liệu và khả năng dịch chuyển đơn hàng giữa các quốc gia.

Trong khi doanh số bán lẻ quần áo tại Hoa Kỳ vẫn tăng nhẹ về giá trị danh nghĩa, kim ngạch nhập khẩu suy giảm và quy mô tồn kho không thay đổi đáng kể, cho thấy phần tăng doanh thu chủ yếu phản ánh yếu tố giá và thuế, còn sản lượng tiêu thụ thực tế đang thu hẹp.

Ông Lê Tiến Trường cho biết, bối cảnh này đòi hỏi các đơn vị phải đánh giá lại vị thế cạnh tranh theo từng ngành hàng, phân khúc và mắt xích của chuỗi giá trị; chủ động nhận diện cả rủi ro đối với hàng may mặc và những cơ hội mới đối với sợi, vải, nguyên liệu và các khâu sản xuất trung gian.

Cùng với đó, doanh nghiệp đầu tư vào công tác nghiên cứu thị trường có hệ thống, đi trước hoạt động kinh doanh. Đồng thời, chủ động rà soát, khảo sát, phát triển những thị trường xuất hiện lợi thế mới từ thay đổi tương quan thuế quan, nhất là đối với sợi, vải và sản phẩm trung gian; qua đó đa dạng hóa đầu ra, khai thác sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng và chuẩn bị thị trường cho năm 2027. Việc lựa chọn thị trường phải đồng thời xem xét hiệu quả, khả năng thanh toán, yêu cầu xuất xứ và mức độ rủi ro, không chạy theo lợi thế thuế quan đơn thuần.

Về đầu tư trung hạn, ông Lê Tiến Trường cho biết, doanh nghiệp chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô sang đầu tư chiều sâu, ưu tiên đổi mới công nghệ, tự động hóa, tiết kiệm năng lượng, nâng cao năng suất và cải thiện điều kiện làm việc. Mỗi dự án phải được đánh giá trên cơ sở hiệu quả khai thác tài sản, thời gian thu hồi vốn, khả năng giảm lao động và mức độ an toàn tài chính. Tập đoàn sẽ phát huy lợi thế quy mô trong nghiên cứu, lựa chọn công nghệ và làm việc với các nhà cung cấp, đồng thời tăng cường chia sẻ kinh nghiệm để hạn chế đầu tư phân tán, giảm chi phí và rủi ro lựa chọn sai.

Nhiều doanh nghiệp cũng đang chủ động triển khai nhiều biện pháp ứng phó trước những biến động của thị trường. Theo bà Phạm Thị Phương Hoa, Tổng Giám đốc Tổng Công ty May Hưng Yên (HUGACO), để thích ứng với tình hình, doanh nghiệp đã vận động người lao động cùng chia sẻ khó khăn nhằm bảo đảm tiến độ giao hàng đúng hạn theo yêu cầu của khách hàng. Đồng thời, HUGACO đã đầu tư chiều sâu vào thiết bị như máy cắt tự động, máy thêu và nhiều thiết bị nâng cao năng suất từ hai năm trước. Việc đầu tư này góp phần giảm bớt tác động của những biến động hiện nay, nâng cao năng suất và bảo đảm tiến độ giao hàng.

Đặc biệt, doanh nghiệp tiếp tục tìm kiếm thêm khách hàng, mở rộng thị trường nhằm hạn chế rủi ro thiếu đơn hàng, bảo đảm việc làm cho người lao động. Song song với đó, HUGACO từng bước triển khai chuyển đổi số trong quản trị doanh nghiệp. Hiện doanh nghiệp đã áp dụng một số phần mềm tại các bộ phận kế toán, tiền lương và sản xuất, đồng thời dự kiến từ cuối tháng 8 sẽ triển khai hệ thống phần mềm quản trị tổng thể để kết nối toàn bộ hoạt động từ đầu vào đến đầu ra, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và giảm chi phí.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng đẩy mạnh chuyển đổi xanh nhằm đáp ứng yêu cầu của các nhãn hàng quốc tế. Hiện HUGACO đang sản xuất cho 15 nhãn hàng, trong đó có nhiều thương hiệu lớn, đồng thời duy trì các chứng chỉ theo yêu cầu của khách hàng trong nhiều năm liên tiếp. Theo bà Phạm Thị Phương Hoa, việc tiếp tục đầu tư các giải pháp về môi trường, năng lượng và thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn của khách hàng sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút thêm đơn hàng và tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển trong thời gian tới.

Bài, ảnh: Thu Trang/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/kinh-te/det-may-chu-dong-thich-ung-voi-tinh-hinh-moi-giu-vung-nang-luc-canh-tranh-20260730130532232.htm