Dệt thổ cẩm của người Lự ở Lai Châu: Con suối uốn lượn quanh vạt áo chàm
Trong đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Lự tại tỉnh Lai Châu, nghề dệt truyền thống từ lâu đã trở thành một nét đẹp gắn liền với sinh hoạt, phong tục và quan niệm thẩm mỹ của cộng đồng.

Người phụ nữ Lự ngồi bên khung cửi dệt vải, một nét văn hóa đặc sắc được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. (Ảnh: Quý Trung/TTXVN)
Ở những bản Lự nằm ven suối, dưới chân núi, gần như nhà sàn nào cũng có một khung cửi. Khi mùa nương tạm nghỉ, tiếng thoi đưa lại vang lên dưới hiên nhà. Với người Lự tại Lai Châu, một trong những dân tộc ít người nhất Việt Nam, nghề dệt không chỉ làm ra tấm vải mặc hằng ngày, mà còn là nơi họ gửi gắm cách sống, làm đẹp và ký ức của cả cộng đồng.
Nghề dệt có từ thuở lập bản
Người Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, là một trong 16 dân tộc có dân số dưới 10.000 người ở Việt Nam. Theo các tư liệu dân tộc học, người Lự đã có mặt ở vùng Xam Mứn (Điện Biên) ít nhất từ khoảng thế kỷ XI-XII, về sau do chiến tranh mà phân tán, một bộ phận định cư ở vùng núi Lai Châu. Hiện họ sống tập trung ở một số xã vùng cao của tỉnh, đông nhất là ở Bản Hon.
Nghề dệt có từ bao giờ, đến nay chưa có tư liệu nào xác định một mốc năm cụ thể. Điều chắc chắn là từ rất sớm, tổ tiên người Lự đã biết trồng bông, kéo sợi, dệt vải để tự làm trang phục cho mình, và nghề ấy được truyền từ đời bà, đời mẹ sang đời con gái cho tới hôm nay.
Những tấm vải thổ cẩm với màu sắc hài hòa, hoa văn tinh tế không chỉ phục vụ nhu cầu trang phục mà còn phản ánh sự sáng tạo, bàn tay khéo léo và chiều sâu văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ. Phụ nữ dân tộc Lự tại các bản làng ở Lai Châu đã trở thành những người giữ nghề, giữ bản sắc văn hóa của dân tộc mình.

Xe sợi một trong những khâu đòi hỏi sự tỉ mỉ trước khi dệt ra những tấm vải thổ cẩm để may váy, áo. (Ảnh: Quý Trung/TTXVN)
Từ nương bông đến khung cửi
Kỹ thuật dệt của người Lự đặc sắc trước hết ở chỗ người phụ nữ làm chủ toàn bộ quy trình, từ cây bông trên nương cho đến bộ trang phục hoàn chỉnh.
Để làm nên một bộ trang phục truyền thống đẹp mắt và cầu kỳ, người Lự phải dành rất nhiều thời gian cùng công sức. Khoảng tháng 3, sau Tết, người Lự phát nương gieo bông. Đến tháng 9, tháng 10, bông được thu hoạch về, nhặt hạt, phơi khô, bật cho tơi rồi xe thành sợi.
Sợi bông được giặt, hồ cho cứng, phơi khô rồi mới mắc lên khung cửi. Vải dệt xong được nhuộm chàm, cho ra các sắc xanh than, đen hoặc nâu, rồi tiếp tục giặt, phơi. Sau đó vải mới được cắt may và thêu hoa văn.
Một bộ trang phục hoàn chỉnh đòi hỏi nhiều tháng lao động chăm chỉ, tỉ mỉ. Chỉ riêng phần hoa văn trên một chiếc váy đã có thể mất khoảng hai tháng, hoa văn một chiếc áo mất khoảng ba tháng, chưa tính thời gian trồng bông và dệt vải. Toàn bộ hoa văn trên áo đều được khâu tay.
Điểm đặc sắc thứ hai nằm ở sự kết hợp giữa dệt, thêu và đắp. Trên nền vải chàm tự dệt, chị em đồng bào Lự đắp những dải vải hoa văn, thổ cẩm nhiều màu, rồi thêu thêm bằng chỉ màu, tạo nên những mảng trang trí rực rỡ nổi bật trên sắc chàm trầm.
Nét đẹp trên bộ trang phục
Trang phục của phụ nữ Lự gồm khăn đội đầu, áo, váy và thắt lưng. Áo nhuộm chàm, hai ống tay thêu hoa văn hình sóng nước bằng chỉ nhiều màu. Nổi bật nhất là dải hoa văn chạy quanh eo áo mà người Lự gọi là "con suối uốn lượn."
Váy bằng vải chàm, được dệt và trang trí thành hai phần, nhìn như hai lớp váy nối vào nhau. Ngày thường, phụ nữ mặc váy đơn giản, còn dịp lễ tết thì mặc váy nhiều lớp, cầu kỳ hơn.
Khăn đội đầu được cuốn nghiêng về phía bên trái. Đi kèm là vòng cổ, vòng tay, hoa tai bằng bạc. Trang phục nam giản dị hơn, quần áo nhuộm chàm, quần thêu hoa văn từ đầu gối trở xuống.
Những hoa văn hình sóng, hình con suối có thể xem như hình ảnh gợi nhắc môi trường sống của người Lự bên sông suối, thung lũng. Qua đó, tấm vải không chỉ là đồ mặc, mà còn là cách người Lự kể về quê hương, làng bản, thiên nhiên tươi đẹp và cuộc sống bình yên của mình.
Giá trị văn hóa và lối sống
Trong cộng đồng đồng bào Lự, tài dệt vải, thêu thùa từ lâu được xem là thước đo sự khéo léo, đảm đang của người phụ nữ. Các bé gái được bà, được mẹ dạy những công đoạn đơn giản từ nhỏ, lớn dần thì học dệt, học thêu.
Ngay từ khi mới 10 đến 12 tuổi, các thiếu nữ Lự đã được bà, được mẹ tận tình truyền dạy từng kỹ năng: từ bật bông, kéo sợi, dệt vải đến kỹ thuật cắt ghép, tạo hình trang phục. Những tháng nông nhàn, phụ nữ ngồi bên khung cửi, vừa làm vừa truyền lại cho con cháu.
Nghề dệt cũng gắn với nếp sống thường ngày. Trước đây, mỗi gia đình đều tự làm trang phục cho cả nhà và mặc đồ truyền thống hằng ngày. Bộ trang phục đẹp nhất được dành cho những dịp quan trọng như lễ cưới, lễ hội của bản. Nhờ vậy, khung cửi trở thành một phần không thể thiếu trong ngôi nhà sàn của người Lự.
Tiếng khung cửi lách cách vang lên giữa không gian bản làng bình dị không chỉ thể hiện tình yêu lao động mà còn là âm thanh của sự tiếp nối truyền thống, niềm tự hào sâu sắc về bản sắc dân tộc.
Sản phẩm thủ công mang giá trị kinh tế-văn hóa trong đời sống hiện đại
Trong nhịp sống hiện đại, cùng sự phát triển của du lịch cộng đồng, nghề dệt truyền thống của người Lự đang đứng trước những cơ hội chuyển mình mạnh mẽ.
Một dấu mốc quan trọng là nghề dệt của người Lự được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025. Đây là sự ghi nhận chính thức đối với giá trị của nghề, đồng thời đặt ra trách nhiệm gìn giữ cho cả chính quyền và cộng đồng.
Không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hay lễ hội nội bộ, người dân đã sáng tạo thêm nhiều sản phẩm thủ công tinh xảo như khăn, túi, cùng các món quà lưu niệm đậm đà nét văn hóa đặc trưng.
Những sản phẩm độc đáo này vừa làm hài lòng du khách thập phương, vừa trực tiếp tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời đưa hình ảnh bản làng và giá trị văn hóa truyền thống đến gần hơn với bạn bè trong và ngoài nước.
Hiện nay, nghề dệt truyền thống cùng những bộ trang phục mang bản sắc riêng vẫn được đồng bào gìn giữ và phát huy, tạo nên nét đặc trưng không thể lẫn với các dân tộc khác trong vùng.
Tại xã Khun Há, tỉnh Lai Châu, việc duy trì nếp sống và phong tục truyền thống đã và đang biến nơi đây thành điểm đến du lịch hấp dẫn.
Giữ được khung cửi trong mỗi nếp nhà sàn là giữ được sợi dây nối người Lự hôm nay với tổ tiên. Khi tấm vải chàm vẫn còn được dệt, những "con suối uốn lượn" vẫn còn chảy quanh vạt áo người phụ nữ Lự, thì bản sắc của một dân tộc ít người vẫn còn có chỗ tựa vững vàng./.

