Đi lên từ khói lửa (Bài 3): Hồi sinh từ 'tro tàn'
Hơn một nửa thế kỷ sau chiến tranh, nhiều vùng đất 'chết' ở xứ Thanh năm xưa đang hồi sinh mãnh liệt. Sự sống đã nảy mầm trên những hố bom, no ấm dần phủ xanh khắp các thôn làng.

Các cựu chiến binh xã Hoằng Giang trước Tượng tưởng niệm vụ tàn sát bằng bom B52 mà Mỹ gây ra với dân làng Vĩnh Gia (tác phẩm của nhà điêu khắc Lê Đình Quỳ).
1. Một nửa làng Vĩnh Gia (thuộc xã Hoằng Phượng cũ), xã Hoằng Giang hằng năm có chung một ngày giỗ, đó là ngày mùng 8/3 âm lịch.
... Đúng 7h30 tối ngày 21/4/1972 (tức mùng 8/3 âm lịch), khi các gia đình đều quây quần bên mâm cơm, hàng loạt máy bay chiến lược B52 xé ngang bầu trời. Tiếng người kêu khóc hòa cùng tiếng máy bay quần thảo... bầu không khí đặc quánh. 128 người đã chết và hơn 200 người bị thương tập trung ở các xóm Vĩnh Bình, Vĩnh Tiến, Vĩnh Tường. Làng mạc bị hủy diệt, nhà cửa, ruộng vườn bị cày xới, có tới 25 gia đình không còn người nào sống sót. Gia đình ông Nguyễn Đức Kính có 9 người thì chết 8 người, 1 người đang đi sơn tràng không có nhà; gia đình ông Nguyễn Văn Giỏ, 5 người chết, duy nhất 1 người thoát được vì đang đi công việc không ở nhà.
Dẫn chúng tôi đến Tượng tưởng niệm ngay kề UBND xã Hoằng Giang, cựu chiến binh Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Văn Phúc và trưởng thôn Vĩnh Gia 2, Lê Ngọc Hợi cho biết: Lúc đó chúng tôi chừng 12 - 13 tuổi, ở phía Bắc làng, nhìn về phía Nam mà rợn người. Bom phạt, bom bi rồi F111, F16, B52 lao qua rất nhanh nhưng thảm họa thì để lại mãi mãi. Ngay trong đêm, xã đã huy động lực lượng thanh niên xung phong và các xã lân cận sang cứu thương, đưa người về lo khâm liệm.
Lần giở lại từng trang lịch sử, từ giai đoạn tiền khởi nghĩa, phong trào cách mạng tại làng Vĩnh Gia đã phát triển mạnh mẽ. Các đồng chí Nguyễn Như Hòe, Nguyễn Đăng Xước... đã tập hợp những người yêu nước, gây dựng các phong trào, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh. Đến những năm kháng chiến chống Mỹ, xã Hoằng Phượng là nơi đóng quân của các đơn vị quân đội. Bên cạnh việc đóng góp công sức để đào đắp công sự, làm trận địa, nuôi dưỡng, che chở cho bộ đội, Hoằng Phượng nói chung, làng Vĩnh Gia nói riêng cũng là nơi gánh chịu nhiều mất mát do những trận bom của giặc.
Sau sự kiện đau thương ấy, lớp lớp con em trong làng lên đường chống Mỹ. Trung tá Nguyễn Văn Hạnh chia sẻ: "Gia đình tôi có 5 chị em, trong đó 3 người lần lượt tham gia chiến trường K, chiến tranh biên giới phía Bắc. May mắn cả 3 chúng tôi đều trở về lành lặn. Rất nhiều gia đình khác trong làng cũng lần lượt tiễn con lên đường".
Ngày hòa bình, thống nhất đất nước, người dân làng Vĩnh Gia “gác” đi nỗi buồn, để vươn lên xây dựng cuộc sống mới. Giới thiệu về thôn Vĩnh Gia 2, trưởng thôn Lê Ngọc Hợi cho biết: Thay vì ăn no mặc lành, người dân trong làng đã hướng tới ăn ngon mặc đẹp. Với 307 hộ với 1.117 nhân khẩu, thu nhập trung bình của người dân đạt trên 74 triệu đồng/năm. Cuộc sống người dân đổi thay nhanh chóng, theo tôi là nhờ tư duy đổi mới đúng hướng và sát với tình hình thực tế của địa phương.
Từ nơi hố bom ấy, những cánh đồng lúa bời bời xanh ngát đã trổ bông trĩu hạt. Từ chính những ngôi nhà tranh vách đất tan hoang sau trận bom, nay mọc lên những ngôi nhà mái Thái, mái Nhật, nhà cao tầng... Chỉ trong 10 năm gần đây, từng con ngõ, xóm trong làng Vĩnh Gia đều đã mở rộng, ô tô đỗ tận cửa.
2. Vùng đất Bái Thượng (thuộc xã Xuân Bái cũ), xã Lam Sơn, không chỉ gắn liền với những huyền thoại về thuở Lê Lợi dựng cờ dấy nghĩa mà nơi đây vốn là vùng rộng lớn, cây cối xanh tươi, dân cư trù mật, cận thị, cận giang. Từ đất Bái Thượng đi ra Bắc hay vào Nam đều rất thuận lợi.
Ngày 13/2/1965, Tổng thống Mỹ L. Giôn xơn phê chuẩn kế hoạch ném bom miền Bắc. Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, người dân Xuân Bái vừa chiến đấu, vừa sản xuất. Nhớ lại thời điểm đó, bà Lê Thị Tần (sinh năm 1946), cho biết: “Khi ấy tôi là một trong số những người tham gia trực chiến thuộc đơn vị K8, Hợp đồng tác chiến. Hằng ngày, vừa tham gia sản xuất, vừa sẵn sàng thay bộ đội trực pháo 37”.
Không chỉ có bà Tần, ở xã Xuân Bái lúc bấy giờ còn nhiều tấm gương chiến đấu, phục vụ chiến đấu và sản xuất giỏi như các ông/bà: Đặng Bá Hồ, Chu Thị Đăng, Lê Thị Tằn, Lê Đức Nùng, Lê Thị Sửu, Trương Văn Thế...
Bà Tần cho biết thêm: Khủng khiếp nhất là năm 1966. Ngày 7/11/1966, nhiều tốp máy bay Mỹ ném hàng chục quả bom có sức công phá lớn xuống HTX Hồng Hải và HTX Đoàn Kết, làm 4 người chết, 6 người bị thương, phá hủy 12 ngôi nhà và nhiều tài sản. Đến tháng 12/1966, Mỹ tiếp tục ném bom HTX Hồng Hải, phá hủy nhiều ngôi nhà, làm 4 người chết, trong đó có 2 trẻ em. 10 ngày sau lại ném bom và bắn rốc két xuống khu vực phía Nam Cầu Trắng, làm 3 người chết, trong đó có 1 dân quân đang làm nhiệm vụ hướng dẫn dân sơ tán. Với người dân Xuân Bái nói chung, Bái Thượng nói riêng, giai đoạn đó không chỉ sống trong khói lửa bom đạn mà là sống kề bên cái chết.
“Tổng kết lại 21 năm chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Xuân Bái có 806 thanh niên lên đường nhập ngũ; 307 người tham gia thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện xây dựng công trường 101 (sân bay Sao Vàng); 30 dân công hỏa tuyến dài hạn; 32 dân công xe thồ chuyển hàng vào khu IV; 11 gia đình có từ 3 đến 5 người vào bộ đội, trực tiếp chiến đấu; nhiều gia đình có 2 con là liệt sĩ; 100 người đã anh dũng hy sinh trên các mặt trận. Trong vòng 15 năm từ 1960-1975, Xuân Bái đã giao nộp cho Nhà nước 5.062 tấn lương thực, hàng ngàn tấn nông sản và thực phẩm”, ông Lê Việt Trung, Phó trưởng Phòng Văn hóa - Xã hội, UBND xã Lam Sơn, cho biết.
Đi trên con đường trung tâm phố Bái Thượng, xã Lam Sơn sầm uất hôm nay, có lẽ ít người trẻ tuổi biết đến lịch sử của mảnh đất Xuân Bái năm xưa. Chỉ tính riêng từ năm 1965-1972, máy bay Mỹ đã hơn một nghìn lần bay qua và oanh tạc, ném hơn 400 quả bom phá; 4.000 quả bom bi, bắn hàng trăm quả rốc két xuống phố Bái Thượng, làm hư hỏng 400 ngôi nhà, làm chết và bị thương hàng trăm người, trong đó có 35 người chịu tàn phế suốt đời.
Phát huy truyền thống cách mạng, kể từ sau năm 1986, người dân xã Xuân Bái luôn nỗ lực trong việc phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, tri ân người có công... Đặc biệt, kể từ khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động, xã Lam Sơn hình thành trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng thị trấn Lam Sơn, xã Thọ Xương và xã Xuân Bái có tổng diện tích tự nhiên 24,9km2, với 33.117 người. Đây là dư địa lớn để xã phát triển.
Trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, hướng đến xây dựng bộ máy hiện đại, tinh gọn, nhiệm kỳ 2025-2030 với phương châm “Đoàn kết - Trách nhiệm - Sáng tạo - Phát triển”, Đảng bộ xã Lam Sơn tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ, tạo đột phá phát triển công nghiệp, dịch vụ, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, quy mô lớn, hình thành các vùng sản xuất, các sản phẩm có thương hiệu, chất lượng cao; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo hướng nhanh và bền vững; khai thác, phát huy các giá trị di sản, nhất là tiềm năng Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh để đẩy mạnh phát triển du lịch tâm linh... phấn đấu thu nhập bình quân đầu người đến năm 2030 đạt 112 triệu đồng/năm.
Những năm tháng chiến tranh đã qua đi hơn nửa thế kỷ, nhiều vùng đất cũng đã hồi sinh, và bây giờ là lúc chúng ta cùng nhìn lại, trân trọng giá trị của hòa bình và viết tiếp những trang sử mới cho dân tộc, cùng nhau xây dựng một Việt Nam hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như sinh thời Bác Hồ hằng mong mỏi.











