Di sản - nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số

Chuyển đổi số đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong cách thức bảo tồn, quảng bá và khai thác di sản văn hóa.

Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ đã phối hợp với các đơn vị chuyên môn thực hiện quét và số hóa hơn 1.000 hiện vật để trình chiếu trên công nghệ Hologram. Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN

Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ đã phối hợp với các đơn vị chuyên môn thực hiện quét và số hóa hơn 1.000 hiện vật để trình chiếu trên công nghệ Hologram. Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN

Nếu trước đây di sản chủ yếu tồn tại trong không gian vật lý và phạm vi cộng đồng sở hữu, thì ngày nay công nghệ số đã đưa di sản vượt qua giới hạn không gian, thời gian, mở ra cơ hội để di sản văn hóa tham gia vào chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa.

Di sản - tài nguyên của công nghiệp văn hóa

Di sản văn hóa giữ vai trò nền tảng trong quá trình hình thành và phát triển công nghiệp văn hóa, bởi đây chính là nơi lưu giữ hệ giá trị, ký ức lịch sử, tri thức dân gian và bản sắc của cộng đồng. Nhiều quốc gia đã xem di sản văn hóa như một loại "vốn mềm" để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và xây dựng thương hiệu quốc gia. Hàn Quốc khai thác các yếu tố văn hóa truyền thống trong điện ảnh, âm nhạc và thời trang để tạo nên làn sóng Hallyu nổi tiếng toàn cầu. Nhật Bản xây dựng thành công các sản phẩm manga, anime dựa trên lịch sử và văn hóa dân tộc. Nhiều quốc gia châu Âu biến các bảo tàng, di tích lịch sử thành điểm đến trải nghiệm văn hóa hấp dẫn, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế sáng tạo… Có thể thấy, di sản văn hóa chính là nền tảng nội sinh để hình thành sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh quốc gia trong thời đại kinh tế sáng tạo

Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh,Việt Nam sở hữu hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, với hàng nghìn lễ hội truyền thống, các loại hình nghệ thuật, tín ngưỡng dân gian, tri thức bản địa, nghề thủ công truyền thống và không gian văn hóa đặc sắc... Đây chính là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng, cảm hứng sáng tạo cho phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Các chất liệu này có thể được chuyển hóa thành chương trình nghệ thuật, điện ảnh, thiết kế sáng tạo, du lịch văn hóa, nội dung số hay các sản phẩm truyền thông hiện đại, mang giá trị tinh thần, có khả năng tạo ra giá trị kinh tế nếu được khai thác trên cơ sở sáng tạo, công nghệ và thị trường đương đại.

Chuyển đổi số đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong cách thức bảo tồn, quảng bá và khai thác di sản văn hóa. Nếu trước đây di sản chủ yếu tồn tại trong không gian vật lý và phạm vi cộng đồng sở hữu, thì ngày nay công nghệ số đã mở rộng khả năng lưu trữ, tái hiện và lan tỏa di sản vượt ra ngoài giới hạn không gian và thời gian. Các công nghệ như số hóa dữ liệu, thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và nền tảng truyền thông số đang mở ra cơ hội mới để di sản văn hóa tham gia vào chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa.

Chuyển đổi số cũng tạo điều kiện để di sản văn hóa từ phạm vi địa phương có thể tiếp cận thị trường toàn cầu. Một lễ hội truyền thống, một loại hình nghệ thuật dân gian hay một tri thức bản địa nếu được truyền thông hiệu quả trên các nền tảng số có thể nhanh chóng lan tỏa ra quốc tế, trở thành nguồn cảm hứng cho các sản phẩm sáng tạo và góp phần xây dựng thương hiệu văn hóa quốc gia. Công nghệ số còn góp phần kéo dài vòng đời của di sản thông qua quá trình tái sáng tạo liên tục trong đời sống đương đại. Di sản không còn tồn tại như một giá trị tĩnh mà có thể được chuyển hóa thành các sản phẩm văn hóa mới phù hợp với nhu cầu xã hội hiện đại. Tuy nhiên, quá trình số hóa và khai thác di sản cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm tính xác thực văn hóa, tránh xu hướng thương mại hóa giản đơn hoặc làm mất đi chiều sâu bản sắc của di sản trong môi trường số.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa chia sẻ, chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản cách thức sáng tạo, sản xuất và tiêu dùng văn hóa. Một di sản nếu được số hóa tốt có thể trở thành nguồn tài nguyên quý giá cho giáo dục, du lịch, truyền thông, điện ảnh, thiết kế và nhiều lĩnh vực khác. Một ý tưởng sáng tạo nếu gắn với công nghệ có thể nhanh chóng trở thành sản phẩm thương mại có giá trị. Công nghệ số không chỉ mở rộng thị trường mà còn tạo ra mô hình kinh doanh mới, giúp sản phẩm văn hóa tiếp cận người dùng toàn cầu với chi phí thấp hơn nhưng hiệu quả cao hơn.

Nhiều mô hình số hóa di sản đã cho hiệu quả. Các bảo tàng trực tuyến, tour tham quan thực tế ảo, triển lãm số, ứng dụng thuyết minh tự động bằng trí tuệ nhân tạo hay các dự án tái hiện di sản bằng công nghệ 3D đang thu hút sự quan tâm của công chúng, đặc biệt là giới trẻ.

Không gian số cũng tạo điều kiện để giá trị văn hóa truyền thống được "kể lại" bằng ngôn ngữ hiện đại. Một câu chuyện dân gian có thể trở thành phim hoạt hình; truyền thuyết lịch sử có thể được phát triển thành trò chơi điện tử; một làn điệu dân ca có thể được tái sáng tạo trên các nền tảng âm nhạc số. Quá trình tái tạo sáng tạo đó giúp di sản không bị đóng khung trong quá khứ mà tiếp tục sống trong hiện tại.

Chuyển đổi số - nền tảng nội sinh sự phát triển

Du khách trải nghiệm công nghệ thực tế ảo (VR) tại Bảo tàng Chứng tính Chiến tranh. Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN

Du khách trải nghiệm công nghệ thực tế ảo (VR) tại Bảo tàng Chứng tính Chiến tranh. Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN

Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh mặc dù di sản văn hóa được xem là nguồn lực quan trọng cho phát triển công nghiệp văn hóa, song thực tiễn ở Việt Nam hiện nay cho thấy quá trình chuyển hóa di sản thành động lực phát triển vẫn còn nhiều hạn chế và thách thức. Di sản chủ yếu được nhìn nhận như đối tượng cần lưu giữ, bảo vệ hoặc phục dựng, trong khi vai trò của di sản như một nguồn vốn văn hóa, chất liệu sáng tạo hay tài nguyên cho kinh tế sáng tạo chưa được quan tâm đúng mức. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều di sản tồn tại trong trạng thái đóng khung, thiếu khả năng kết nối với đời sống đương đại và thị trường văn hóa.

Việt Nam vẫn chưa hình thành được một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đồng bộ dựa trên nền tảng di sản. Sự liên kết giữa nghệ nhân, cộng đồng thực hành di sản, doanh nghiệp sáng tạo, công nghệ và thị trường còn rời rạc. Không ít sản phẩm văn hóa mới chỉ dừng ở quy mô nhỏ lẻ, thiếu chiến lược thương hiệu, thiếu nền tảng phân phối và chưa hình thành được chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ sáng tạo, sản xuất, quảng bá đến tiêu dùng văn hóa. Điều này khiến tiềm năng của di sản chưa được chuyển hóa hiệu quả thành giá trị kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia.

Một thách thức đáng chú ý khác là nguy cơ thương mại hóa và làm biến dạng di sản trong quá trình khai thác. Trong bối cảnh thị trường và truyền thông số phát triển mạnh, một số hoạt động khai thác di sản có xu hướng chạy theo tính giải trí hoặc thị hiếu ngắn hạn, làm mất đi chiều sâu biểu tượng và giá trị tinh thần vốn có. Ngoài ra, hạn chế về nguồn nhân lực và công nghệ cũng là vấn đề lớn hiện nay. Công nghiệp văn hóa đòi hỏi đội ngũ vừa có tri thức về văn hóa truyền thống, vừa có năng lực sáng tạo, công nghệ và tư duy thị trường. Tuy nhiên, nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu liên ngành này còn thiếu. Hạ tầng công nghệ, cơ sở dữ liệu số và các nền tảng hỗ trợ sáng tạo văn hóa ở nhiều địa phương cũng chưa phát triển đồng bộ, ảnh hưởng đến khả năng khai thác và lan tỏa giá trị di sản trong môi trường số.

Để di sản văn hóa thực sự trở thành nền tảng nội sinh cho sự phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, Phó giáo sư, Tiến sĩ Lâm Nhân cho rằng, cần có những định hướng phát triển đồng bộ cả về tư duy, thể chế, nguồn lực và công nghệ.

Trước hết, cần chuyển từ tư duy bảo tồn tĩnh sang bảo tồn thông qua phát triển, việc bảo tồn di sản chỉ thực sự bền vững khi di sản tiếp tục tồn tại trong cộng đồng, được tái sáng tạo và tạo ra giá trị mới phù hợp với bối cảnh xã hội hiện đại. Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa dựa trên nền tảng di sản, kết nối giữa cộng đồng thực hành di sản, nghệ nhân, doanh nghiệp sáng tạo, cơ sở đào tạo, công nghệ và thị trường. Chỉ khi hình thành được chuỗi giá trị đồng bộ từ sáng tạo, sản xuất, quảng bá đến tiêu dùng văn hóa thì di sản mới có thể chuyển hóa hiệu quả thành giá trị kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa cho rằng, công nghiệp văn hóa không phải là sự gia tăng đơn thuần số lượng sản phẩm văn hóa, mà phải được nhìn nhận như một hệ sinh thái phát triển, nơi các yếu tố sáng tạo, công nghệ, vốn, thị trường và quản trị cùng tương tác để tạo ra giá trị mới. Khi một sản phẩm vừa giữ được hồn cốt dân tộc, vừa đáp ứng nhu cầu thị trường, vừa có khả năng cạnh tranh quốc tế thì văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực phát triển.

Các chuyên gia văn hóa cho rằng, Nghị quyết 80-NQ/TW đã thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về văn hóa nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng. Nghị quyết cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP và đến năm 2045 trở thành một trong những trụ cột phát triển bền vững của đất nước. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, việc phát huy giá trị di sản trong môi trường số không chỉ là yêu cầu của ngành văn hóa mà còn là nhiệm vụ chiến lược của cả hệ thống chính trị.

Phương Lan (TTXVN)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/van-hoa/di-san-nguon-luc-cho-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-trong-ky-nguyen-so-20260613095300993.htm