Di sản trở thành động lực phát triển bền vững của làng gốm Kim Lan, Hà Nội
Làng nghề Kim Lan đang cho thấy một hướng đi rất đáng quan tâm. Đó là đặt cộng đồng vào trung tâm của bảo tồn, dùng công nghệ, đổi mới sáng tạo để nâng giá trị sản phẩm, kết nối di sản với thị trường bằng chuỗi giá trị mở và tạo cơ chế phối hợp để khai thác hiệu quả các nguồn lực địa phương.

Sản phẩm của làng gốm Kim Lan. Ảnh: Lý Hà
Kim Lan là một làng cổ ven sông Hồng, nay thuộc xã Bát Tràng, Hà Nội. Bên cạnh nghề gốm được duy trì trong đời sống đương đại, địa phương còn có di chỉ Bãi Hàm Rồng với các lớp văn hóa và dấu tích sản xuất gốm qua nhiều thời kỳ.
Những đợt khai quật đã phát hiện số lượng lớn mảnh gốm, bao nung, con kê, phế phẩm và vật liệu xây dựng, cho thấy vị trí của Kim Lan trong không gian văn hóa, thủ công ven sông gắn với Thăng Long xưa.
TRẢ DI SẢN VỀ CHO CỘNG ĐỒNG
Từ di sản khảo cổ, tư liệu Hán Nôm đến các xưởng gốm đang hoạt động, Kim Lan hội tụ nhiều lớp giá trị. Thách thức là biến những giá trị đó thành lợi thế cạnh tranh, sinh kế ổn định và nguồn lực phát triển. Theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Kim Lan cần một mô hình phát triển từ bên trong, lấy cộng đồng làm chủ thể.
Điểm khác biệt của Kim Lan không chỉ là bề dày của gốm cổ, mà ở việc di sản được cộng đồng trực tiếp gìn giữ và kể lại. Hầu hết người dân trong làng sinh sống nhờ nghề gốm, tạo thành một hệ sinh thái khá hoàn chỉnh từ cung cấp nguyên liệu, dụng cụ đến sản xuất và các dịch vụ hỗ trợ.

Bảo tàng Khảo cổ Cộng đồng Kim Lan thành lập năm 2012, lưu giữ khoảng 300 hiện vật tiêu biểu. Ảnh: Lý Hà
Bảo tàng Khảo cổ Cộng đồng Kim Lan thành lập năm 2012, lưu giữ khoảng 300 hiện vật tiêu biểu do người dân phát hiện, bảo quản và đóng góp qua nhiều năm. Sự đồng hành của các nhà nghiên cứu, trong đó có cố Tiến sĩ người Nhật, Nishimura Masanari, đã giúp những hiện vật rời rạc trở thành một không gian lưu giữ ký ức chung của làng.
Ý nghĩa của mô hình này không dừng ở việc trưng bày mà còn cho thấy người dân Kim Lan luôn gắn với quá trình phát triển. Theo Nghệ nhân ưu tú Đào Việt Bình và Nghệ nhân Nguyễn Đức Tuấn, gìn giữ nghề là phải biết kết hợp giữa truyền thống với hiện đại, đưa yếu tố đổi mới, sáng tạo vào từng sản phẩm. Sản phẩm gốm không chỉ giữ được bản sắc của làng nghề mà còn phải phù hợp với nhu cầu, thị hiếu và không gian sống của người tiêu dùng hiện đại.

Tái hiện lò nung gốm cổ của làng nghề Kim Lan. Ảnh: Lý Hà
Từ các xưởng gốm, việc truyền nghề, đón người trẻ trải nghiệm và sáng tạo sản phẩm mới có thể tạo cầu nối giữa tri thức thủ công, giáo dục di sản và du lịch làng nghề.
Việc Kim Lan được công nhận là Điểm du lịch của Hà Nội năm 2024 và là Di sản văn hóa phi vật thể năm 2025 mở thêm điều kiện kết nối bảo tồn với phát triển du lịch làng nghề.
Lúc này, du lịch mang đến giá trị trải nghiệm, đưa du khách đi từ bảo tàng, không gian làng, xưởng gốm đến quá trình xử lý đất, tạo hình, trang trí và nung sản phẩm. Qua đó, một chiếc bình, viên gạch hay sản phẩm gốm nghệ thuật được nhận diện không chỉ ở công năng mà còn ở nguồn gốc văn hóa và tri thức nghề.

Ông Nguyễn Chí Phương, Chủ nhiệm CLB Nghệ nhân - Thợ giỏi làng gốm Kim Lan (thuộc Hội Gốm Sứ Kim Lan) chia sẻ ý nghĩa của những mảnh gốm cổ của làng Kim Lan. Ảnh: Lý Hà
Nghị quyết 80-NQ/TW đặt yêu cầu phát huy vai trò sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của nhân dân; với Kim Lan, điều đó cần được thể hiện bằng việc bảo đảm cộng đồng tiếp tục có tiếng nói trong bảo tồn, lựa chọn hướng phát triển sản phẩm và tổ chức các hoạt động trải nghiệm.
Phát triển sẽ bền vững hơn khi lợi ích từ du lịch, thương mại và sáng tạo quay trở lại với những người đang sống bằng nghề và gìn giữ không gian văn hóa của làng.
BA TRỤ CỘT CỦA MÔ HÌNH KINH TẾ DI SẢN
Trụ cột thứ nhất là công nghệ. Theo ông Đào Việt Bình, Nghệ nhân ưu tú, Chủ tịch Hội gốm sứ Kim Lan, làng hiện có 424 lò sử dụng gas, 70 lò điện và 4 lò đốt than theo công nghệ cũ.
Chuyển đổi từ lò than sang lò gas, điện là một thành công về sự chuyển đổi công nghệ của Kim Lan. Công nghệ mới này giúp các cơ sở chủ động hơn trong kiểm soát nhiệt độ, giảm khói bụi, làng xóm xanh, sạch đẹp, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng hiệu quả sản xuất (đạt trên 90% loại 1).
Công nghệ không thay thế bàn tay người thợ, mà tạo điều kiện để tri thức nghề được phát huy trong điều kiện sản xuất mới. Tại Kim Lan, Nghệ nhân ưu tú Đào Việt Bình đã nghiên cứu, phát triển các dòng men gợi nhắc men cổ như: men rạn vàng, men rạn Lý – Trần, men rạn Chu Đậu, men ngọc cổ.

Những người thợ của làng gốm Kim Lan. Ảnh: Lý Hà
Việc một số sản phẩm của cơ sở đạt chứng nhận OCOP 4 sao cho thấy di sản không chỉ được lưu giữ trong hiện vật khảo cổ, mà nhờ công nghệ nó có thể trở thành chất liệu cho thiết kế, nâng chất lượng và giá trị của các dòng sản phẩm cao cấp, phục vụ khách sạn và khu nghỉ dưỡng 4–5 sao.
Theo ước tính của Nghệ nhân Phạm Văn Nguyên, Hội gốm sứ Kim Lan, doanh thu bình quân của các cơ sở vận hành lò hiện đại có thể đạt trên 300 triệu đồng mỗi tháng, tùy theo quy mô hộ, loại sản phẩm và kênh tiêu thụ. Thu nhập của người thợ ở các lò này nằm trong khoảng 15 triệu đến 25 triệu đồng/tháng và thu hút lao động trẻ trở về nối nghiệp.
Tuy nhiên, Nghệ nhân Đào Việt Bình cũng cho rằng để tạo giá trị gia tăng bền vững thì cần phải kết hợp được truyền thống với sáng tạo, sản xuất với thị trường, phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và lợi ích của từng gia đình với sự phát triển chung của cộng đồng làng nghề. Và đây cũng là cách chuyển di sản từ lợi thế tiềm năng thành giá trị có thể đo đếm trên thị trường.
Trụ cột thứ hai là chuỗi giá trị mở. Kim Lan có lợi thế khi di sản khảo cổ, nghệ nhân, xưởng sản xuất, bảo tàng cộng đồng, sản phẩm và không gian ven sông cùng hiện diện trên một địa bàn.
Nếu được liên kết đúng cách, các yếu tố này sẽ không tồn tại rời rạc giữa bảo tồn, sản xuất, du lịch và thương mại. Bảo tàng là điểm khởi đầu của câu chuyện; xưởng gốm là nơi trải nghiệm tri thức nghề; sản phẩm là phương tiện đưa câu chuyện ấy đến với thị trường.
Chuyển đổi số cần tham gia vào quá trình này theo hướng thực chất. Thay vì chỉ giới thiệu hình ảnh sản phẩm trên mạng xã hội, địa phương và các cơ sở cần từng bước số hóa tư liệu về hiện vật, hoa văn, kỹ thuật; xây dựng nhận diện chung; hỗ trợ thương mại điện tử, quản lý đơn hàng và truy xuất nguồn gốc.
Một nền tảng số chỉ có ý nghĩa khi giúp nghệ nhân tiếp cận thông tin thiết kế và thị trường, khách hàng kiểm tra nguồn gốc, doanh nghiệp xây dựng sản phẩm du lịch, còn cơ quan quản lý có dữ liệu để theo dõi nhu cầu hỗ trợ và vấn đề môi trường.

Những người thợ của làng gốm Kim Lan. Ảnh: Lý Hà
Trụ cột thứ ba là cơ chế phối hợp. Chính quyền địa phương cần gắn bảo vệ di chỉ với quy hoạch, hạ tầng làng nghề, môi trường, giao thông và không gian phát triển, cụ thể hỗ trợ mặt bằng sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm đến tổ chức hội thảo, tập huấn, đào tạo nghề và giúp người dân tiếp cận các công cụ số phục vụ sản xuất, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm.
Hội nghề nghiệp và nghệ nhân giữ vai trò chuẩn hóa chất lượng, truyền nghề và phát triển sản phẩm. Các nhà nghiên cứu hỗ trợ thẩm định nội dung khảo cổ, lịch sử; doanh nghiệp thiết kế, lữ hành và phân phối tham gia kết nối thị trường. Cơ chế phối hợp rõ ràng sẽ giúp từng chủ thể phát huy đúng vai trò, đồng thời bảo đảm lợi ích của cộng đồng.
Trong bối cảnh yêu cầu nâng cao trách nhiệm và năng lực tổ chức thực hiện của chính quyền địa phương hai cấp, Kim Lan cũng đặt ra yêu cầu về một cách làm chủ động hơn.
Chính quyền xã chủ động rà soát, đề xuất phương án khai thác hiệu quả các nguồn lực đất đai, tài sản công sau sắp xếp theo đúng thẩm quyền, công khai và minh bạch; đồng thời tạo điều kiện hình thành những không gian phù hợp cho hoạt động văn hóa, thương mại, giới thiệu sản phẩm và du lịch làng nghề.
Đây không phải là câu chuyện ưu đãi mà là yêu cầu chuyển hóa thực chất, hiệu quả từ các chủ trương của Đảng, Nhà nước thành năng lực hành động tại cơ sở.
Tinh thần của Nghị quyết 21-NQ/TW về hoàn thiện thể chế đất đai và các yêu cầu mới về trách nhiệm của chính quyền địa phương chỉ thực sự có ý nghĩa khi những nguồn lực đang nằm ở dạng tiềm năng được tổ chức, khai thác đúng quy định để phục vụ phát triển.
Với làng nghề, cơ chế thực hiện là điều kiện để các ý tưởng bảo tồn và phát triển trở thành dự án, sản phẩm, không gian hoạt động cụ thể.
PHÁT TRIỂN TỪ BÊN TRONG, CÂN BẰNG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
Kim Lan có nền tảng để phát triển kinh tế di sản, nhưng sự bền vững sẽ không đến từ một hoạt động đơn lẻ. Nguồn đất sét tại chỗ hạn chế, yêu cầu tiêu chuẩn môi trường ngày càng cao, áp lực thiết kế và sức ép cạnh tranh đòi hỏi làng nghề phải vừa đổi mới vừa giữ được bản sắc.

Tác phẩm Thiên Vương Khai Quang (Choé độc bản) của nghệ nhân Nguyễn Đức Tuấn. Ảnh: Lý Hà
Vì vậy, chuyển đổi lò nung cần đi cùng quản lý chất thải, an toàn sản xuất và cảnh quan; phát triển du lịch cần đi cùng bảo vệ di chỉ; mở rộng thị trường cần đi cùng chuẩn hóa chất lượng và xây dựng thương hiệu.
Hướng đi phù hợp không phải là thay thế không gian và chủ thể làng nghề bằng các mô hình bên ngoài. Kim Lan cần phát triển từ những nguồn lực đã có: Cộng đồng đoàn kết, chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ tri thức nghề, di sản khảo cổ, năng lực sáng tạo của nghệ nhân và vị trí trong không gian văn hóa ven sông Hồng. Công nghệ, chuỗi giá trị và cơ chế phối hợp là ba công cụ để phát huy các nguồn lực để làm sáng lên bản sắc của một làng nghề gốm cổ.
Mô hình Kim Lan vì vậy có thể gợi mở một cách tiếp cận cho nhiều làng nghề: Trả di sản về cho cộng đồng; lấy cộng đồng làm trung tâm; dùng công nghệ để nâng chất lượng và giá trị sản phẩm; dùng chuỗi giá trị mở để kết nối bảo tồn với thị trường; gớ điểm nghẽ cơ chế để khơi thông nguồn lực.
Khi các yếu tố này được đặt trong cùng một chiến lược, bảo tồn và phát triển không còn là hai mục tiêu đối lập mà trở thành hai mặt của một quá trình phát triển dài hạn, theo Nghệ nhân ưu tú Đào Việt Bình là làm cho mọi người cùng phát triển nghề, cùng có việc làm, có thu nhập và từng bước làm giàu chính đáng từ nghề truyền thống.
