Di sản Việt Nam đang tạo ra bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế?
Không chỉ tính doanh thu du lịch hay tiền vé tham quan, Việt Nam đang hướng tới nhận diện cả những giá trị văn hóa, tự nhiên, sinh kế và phúc lợi xã hội mà di sản tạo ra nhưng chưa được đong đếm đủ.

Huế mang trong mình khát vọng trở thành “thủ phủ du lịch văn hóa của Đông Nam Á.” (Ảnh: CTV/Vietnam+)
Một di sản thế giới có thể tạo ra bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế? Câu trả lời không chỉ nằm trong số tiền bán vé, doanh thu lưu trú hay mức chi tiêu của du khách. Bởi phía sau những con số thị trường ấy là cả hệ giá trị của cảnh quan, môi trường, thương hiệu lãnh thổ và điểm đến, không gian sống, sinh kế cộng đồng, giáo dục, nghiên cứu, bản sắc và những lợi ích được trao truyền cho các thế hệ sau.
Đó cũng chính là vấn đề mà Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đang đặt ra tại Đề án “Định giá kinh tế di sản - TEV, lượng hóa giá trị kinh tế tổng thể di sản thế giới,” đang được lấy ý kiến rộng rãi.
Không chỉ đếm tiền vé và doanh thu du lịch
Việt Nam hiện có 9 di sản thế giới được UNESCO ghi danh, gồm các di sản văn hóa, thiên nhiên và hỗn hợp, với quy mô, mô hình quản lý và mức độ tác động kinh tế-xã hội khác nhau. Sau hơn 30 năm bảo vệ, quản lý và phát huy giá trị, di sản ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội, du lịch, sinh kế cộng đồng, bảo vệ môi trường và nâng cao hình ảnh, vị thế quốc gia.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào doanh thu du lịch, tiền vé tham quan hay mức chi tiêu của du khách, phần lớn giá trị mà di sản tạo ra sẽ không xuất hiện trong các bảng thống kê.
Vì thế Đề án tiếp cận giá trị di sản theo phương pháp TEV (Total Economic Value - Tổng giá trị kinh tế). Đây không phải là phép tính nhằm đưa toàn bộ giá trị văn hóa hay Giá trị nổi bật toàn cầu của một di sản thành một con số tiền tệ, mà hướng tới nhận diện và lượng hóa những lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường và phúc lợi mà tài sản di sản tạo ra.
Theo đó, giá trị sử dụng trực tiếp bao gồm những lợi ích từ du lịch, dịch vụ văn hóa, dịch vụ sinh thái, giáo dục, nghiên cứu, tổ chức sự kiện, hoạt động cộng đồng và sinh kế. Giá trị sử dụng gián tiếp có thể đến từ cảnh quan, môi trường, hệ sinh thái, thương hiệu lãnh thổ và điểm đến, sức hấp dẫn đầu tư, giá trị bất động sản hay chất lượng không gian sống.


Các chuyên gia khảo sát tại di sản thế giới của Việt Nam. (Ảnh: Cục Di sản văn hóa)
Bên cạnh đó còn có giá trị lựa chọn cho tương lai và những giá trị không sử dụng như giá trị tồn tại, giá trị để lại cho các thế hệ sau, giá trị biểu tượng, bản sắc và đời sống tinh thần của cộng đồng.
Nói cách khác, doanh thu du lịch mới chỉ phản ánh một phần giá trị sử dụng trực tiếp. Một cảnh quan di sản có thể làm tăng sức hấp dẫn của cả một điểm đến; một hệ sinh thái được bảo vệ có thể duy trì nguồn nước, môi trường sống và sinh kế; một khu phố di sản có thể tạo thêm giá trị cho không gian đô thị và thương hiệu lãnh thổ. Những lợi ích ấy không phải lúc nào cũng được phản ánh trong giá vé hay doanh thu của chính di sản.
Từ “bảo tồn” đến “di sản dẫn dắt phát triển”
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa đã đặt rõ yêu cầu “đầu tư bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản văn hóa lồng ghép vào mục tiêu phát triển bền vững về môi trường, văn hóa, kinh tế, xã hội gắn với sinh kế cộng đồng, hình thành một số đô thị di sản, phát triển kinh tế di sản, góp phần hoàn thiện hệ sinh thái văn hóa.”
Đáng chú ý, Nghị quyết cũng yêu cầu nghiên cứu và lượng giá TEV, phát triển thương hiệu điểm đến Việt Nam trên toàn cầu, “biến di sản thành tài sản,” hình thành mô hình “di sản dẫn dắt phát triển kinh tế” tại các khu di sản thế giới và một số đô thị di sản theo quan điểm bảo tồn di sản và phát triển bền vững của UNESCO.
Như vậy, câu chuyện lượng giá TEV không thể “mình một cõi” mà cần gắn với một thay đổi lớn hơn trong cách nhìn về di sản: từ đối tượng cần bảo vệ sang một nguồn lực có thể tạo ra giá trị cho phát triển, nhưng phải được quản trị trên nền tảng bảo tồn và phát triển bền vững.

Ninh Bình, vùng đất di sản hấp dẫn trên bản đồ du lịch Việt Nam. (Ảnh minh họa: CTV/Vietnam+)
Từ thực tiễn đó, Đề án hướng tới xây dựng một khung phương pháp thống nhất ở cấp quốc gia. Lãnh đạo Cục Di sản văn hóa nhận định Việt Nam chưa có một khung lượng giá TEV thống nhất đối với di sản; một số nghiên cứu đã được thực hiện tại từng di sản, địa phương hoặc dự án nhưng khác nhau về phạm vi giá trị, phương pháp, dữ liệu và kỹ thuật ước lượng. Việc thiếu một phương pháp chung khiến kết quả khó so sánh, cập nhật và tích hợp vào quy hoạch, đầu tư công, chiến lược du lịch, đánh giá tác động cũng như các cơ chế tài chính cho bảo tồn.
Một nghiên cứu thực nghiệm về TEV tại Tràng An năm 2025 cho thấy giá trị văn hóa chiếm 49,31%, giá trị tự nhiên 38,99% và hệ thống định cư 11,71%. Những con số này cho thấy nếu chỉ dùng doanh thu du lịch hoặc các khoản thu trực tiếp để đánh giá đóng góp của di sản, bức tranh về giá trị kinh tế tổng thể sẽ còn thiếu nhiều lớp quan trọng.
Điểm quan trọng của cách tiếp cận này là đưa giá trị di sản vào cùng một hệ quy chiếu với các quyết định phát triển. Khi giá trị của cảnh quan, hệ sinh thái, sinh kế cộng đồng, thương hiệu lãnh thổ hay những lợi ích phi thị trường được nhận diện và lượng hóa, đầu tư cho bảo tồn có thể được nhìn nhận đầy đủ hơn trong mối tương quan với những giá trị mà di sản đang tạo ra và duy trì cho nền kinh tế, xã hội và môi trường.
Định giá để đầu tư đúng
Đây cũng là lý do Đề án không dừng ở việc xây dựng phương pháp mà dự kiến triển khai 8 đề án thành phần tại các nhóm di sản thế giới, gồm Hoàng thành Thăng Long; Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc; Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà; Thành Nhà Hồ; Phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn; Quần thể di tích Cố đô Huế; Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
Các nghiên cứu được thực hiện trên 4 hệ thống tài sản gồm tài sản tự nhiên, tài sản văn hóa, tài sản định cư và tài sản kinh tế. Cách tiếp cận này thay đổi đối tượng được lượng giá: di sản không còn được nhìn như một điểm tham quan đơn lẻ mà là một hệ thống tài sản, trong đó các lớp giá trị đan xen, tác động qua lại và cùng tạo ra lợi ích cho xã hội.

Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Thị Thu Hiền trong cuộc họp xin ý kiến về Đề án, diễn ra tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sáng ngày 11/9/2026. (Ảnh: Cục Di sản văn hóa)
Để lượng hóa các giá trị đó, Đề án dự kiến sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như chi phí du hành, định giá ngẫu nhiên, thí nghiệm lựa chọn, định giá hưởng thụ, chuyển giao lợi ích và các phương pháp phân tích bổ trợ khác. Việc lựa chọn phương pháp sẽ phụ thuộc vào từng loại giá trị, đặc điểm di sản, dữ liệu hiện có và điều kiện thực tế.
Một hướng tiếp cận đáng chú ý là kết nối kết quả lượng giá với cơ sở dữ liệu di sản, bản đồ, hệ thống thông tin địa lý và phân tích không gian. Khi các giá trị được thể hiện trên không gian địa lý, cơ quan quản lý có thể nhận diện rõ hơn khu vực có giá trị bảo tồn cao, nơi đang chịu áp lực phát triển, các điểm nóng về môi trường, sự phân bố lợi ích và những kịch bản phát triển khác nhau.
Từ đó, TEV có thể trở thành một lớp dữ liệu phục vụ những quyết định vốn lâu nay thường được đưa ra dựa trên các chỉ số riêng lẻ: đầu tư vào đâu, ưu tiên nguồn lực bảo tồn cho khu vực nào, mức độ khai thác đến đâu, dự án phát triển tác động thế nào tới giá trị di sản và nguồn lực từ di sản có thể được tái đầu tư ra sao.
Quan trọng là, định giá không đồng nghĩa với thương mại hóa di sản. Ngược lại, việc lượng hóa được đặt ra nhằm có thêm căn cứ xác định mức đầu tư cho bảo tồn, giới hạn khai thác và cơ chế chia sẻ lợi ích. Khi giá trị kinh tế được nhận diện càng đầy đủ thì bài toán cân bằng giữa bảo tồn và phát triển càng có cơ sở dữ liệu rõ ràng, thống nhất.
Với cộng đồng sống trong và xung quanh các khu di sản, đây là một lớp giá trị đặc biệt cần được nhìn nhận. Sinh kế, việc làm, dịch vụ địa phương và các lợi ích xã hội mà di sản tạo ra cần được đặt trong tổng thể giá trị của di sản, thay vì chỉ được xem như tác động phụ của hoạt động du lịch.

Phong Nha hấp dẫn du khách nhờ hệ thống núi đá vôi đồ sộ. (Ảnh: Hải An/Vietnam+)
Khi những giá trị đó được lượng hóa, TEV có thể trở thành một trong những cơ sở để thiết kế cơ chế chia sẻ lợi ích, tái đầu tư nguồn thu và tạo động lực để cộng đồng tiếp tục tham gia bảo vệ di sản.
Theo tiến độ, tháng 5/2026 Đề án xây dựng đề cương; trong tháng 5-6/2026, các nhóm nghiên cứu khảo sát, thu thập dữ liệu tại 8 nhóm di sản, đồng thời thực hiện các nghiên cứu chuyên đề. Tháng Bảy là giai đoạn lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương, cơ quan và thành viên Ban soạn thảo, Tổ biên tập; tháng Tám tổng hợp, giải trình, hoàn thiện dự thảo và hồ sơ trình; tháng 9/2026 tiếp tục hoàn thiện dự thảo để báo cáo Ban soạn thảo, Tổ biên tập.
Xa hơn, việc công bố kết quả nghiên cứu trên các diễn đàn khoa học quốc tế được kỳ vọng góp phần nâng cao vị thế di sản thế giới của Việt Nam, mở rộng hợp tác và thu hút thêm nguồn lực cho hệ sinh thái kinh tế gắn với di sản, đô thị di sản, đô thị sáng tạo và các mạng lưới văn hóa quốc tế.
Các chuyên gia đánh giá giá trị lớn nhất của Đề án vì thế không nằm ở việc tìm một con số để “định giá” di sản. Bởi điều quan trọng hơn là Việt Nam đang xây dựng một khung phương pháp thống nhất để nhận diện đầy đủ hơn những gì di sản tạo ra cho nền kinh tế, xã hội, môi trường và cộng đồng.
Khi những giá trị vốn khó nhìn thấy được đưa vào hệ thống dữ liệu, di sản có thêm cơ hội được nhìn nhận không chỉ như đối tượng cần bảo tồn mà còn như một nguồn lực cần được đầu tư, quản trị và phát huy có trách nhiệm.
Từ đó, câu hỏi không còn đơn thuần là di sản “đáng giá bao nhiêu,” mà là cần đầu tư bao nhiêu cho bảo tồn, khai thác đến đâu và chia sẻ lợi ích thế nào để những giá trị ấy tiếp tục được duy trì cho các thế hệ sau./.

Du khách quốc tế tham quan khu đền tháp Mỹ Sơn. (Ảnh: TTXVN)
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã gửi dự thảo Đề án lấy ý kiến 48 cơ quan, tổ chức, cá nhân và nhận được 207 ý kiến góp ý cụ thể. Cơ quan soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh sửa theo 183 ý kiến, tương đương khoảng 88,5%, đồng thời giải trình 24 ý kiến còn lại.
Cục Di sản văn hóa sẽ hoàn chỉnh hồ sơ, trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án, dự kiến trong tháng 10/2026.

