Đi tìm lời giải góp phần phát huy giá trị văn tự ở các di tích - Bài 1: Di sản vẫn còn nhưng ít người hiểu được ý nghĩa

Mỗi năm, có hàng triệu lượt người tìm đến các điểm di tích văn hóa trên khắp cả nước để chiêm bái, tham quan và tìm hiểu giá trị văn hóa, lịch sử. Tại nhiều di tích có sự hiện diện dày đặc của các văn tự Hán Nôm. Thế nhưng, ít người hiểu được ý nghĩa của những chữ viết này.

LTS: Trải qua hàng trăm năm, với bao biến thiên dâu bể, hệ thống văn tự Hán Nôm (hoành phi, câu đối, bia đá, sắc phong…) ở các di tích là một phần quan trọng tạo nên không gian văn hóa tâm linh của người Việt, trở thành một phần của khối di sản văn hóa dân tộc, kết tinh trí tuệ, học vấn, ẩn chứa những thông điệp của tiền nhân. Trong bối cảnh, văn tự Hán Nôm không còn được sử dụng phổ biển, vấn đề đặt ra không phải là lựa chọn thay thế, mà làm thế nào để phát huy giá trị di sản, để văn tự vẫn “sống” trong đời sống đương đại…

Mỗi thành tố đều góp phần tạo nên giá trị của thời đại

Trong dòng chảy hàng nghìn năm lịch sử, hệ thống đình, đền, chùa, miếu không chỉ là nơi thực hành tín ngưỡng, lưu giữ ký ức cộng đồng mà còn là “bảo tàng sống” của văn hóa dân tộc. Nét thâm trầm trong từng pho tượng cổ, đầu đao mái uốn cong, mỗi bức chạm rồng phượng hay từng tấm bia đá, bức hoành phi đều kể câu chuyện về thời đại.

Trong dòng người tìm đến các di tích không chỉ có người dân địa phương mà còn có đông đảo du khách thập phương, học sinh, sinh viên. Họ dễ dàng cảm nhận vẻ cổ kính của mái ngói rêu phong, sự tinh xảo của đường nét chạm khắc, hay không gian linh thiêng của một cơ sở thờ tự. Tuy nhiên, khi đứng trước những bức hoành phi, câu đối, bia đá, minh văn trên chuông đồng, sắc phong… nhiều người không đọc được nên không hiểu nội dung và cũng không biết những dòng chữ ấy mang ý nghĩa gì.

Mỗi bức hoành phi, câu đối ở các di tích đều mang giá trị về nhiều phương diện. (Ảnh chụp tại Đình So (Hà Nội)).

Thực tế, đây là khoảng cách mà nhiều người Việt hôm nay đang gặp phải khi bước vào di tích, văn tự Hán Nôm gần như trở thành “mật mã”.

Những năm gần đây, khoảng cách ấy đang từng bước được thu hẹp. Tại nhiều di tích lịch sử - văn hóa, cơ sở thờ tự, các ban quản lý đã chủ động đặt bảng chú giải, phiên âm và dịch nghĩa cho hệ thống hoành phi, câu đối, bia đá nhằm giúp người dân, du khách hiểu hơn về giá trị của di sản. Nhiều địa phương như Hà Nội, Huế, Ninh Bình, Bắc Ninh… cũng triển khai hoạt động số hóa tư liệu Hán Nôm, gắn mã QR hoặc xây dựng cơ sở dữ liệu để người tham quan dễ dàng tiếp cận nội dung các văn tự. Đây được xem là một bước tiến quan trọng trong việc đưa di sản đến gần hơn với cộng đồng.

Tuy nhiên, những nỗ lực ấy mới chỉ xuất hiện ở một số di tích được đầu tư bài bản hoặc có lượng khách tham quan lớn. Phần lớn đình, đền, chùa, miếu ở các địa phương vẫn chưa có hệ thống thuyết minh, chú giải đầy đủ. Trong khi đó, thời gian cũng đang tạo thêm những thách thức mới. Nhiều văn tự Hán Nôm được viết trên gỗ, giấy, lụa hoặc khắc trên đá đã xuống cấp sau hàng trăm năm tồn tại. Không ít hoành phi bị bong tróc, câu đối phai mực, bia đá bị phong hóa khiến nét chữ mờ dần theo năm tháng.

Cùng với sự mai một của hiện vật là sự thiếu hụt ngày càng rõ nét của đội ngũ có khả năng đọc, phiên âm, dịch nghĩa và nghiên cứu Hán Nôm. Ở nhiều địa phương, khi cần xác định nội dung của một văn bản cổ, ban quản lý di tích bắt buộc phải tìm đến một số chuyên gia hoặc các nhà nghiên cứu tại các viện, trường đại học. Di sản vẫn còn đó, nhưng ý nghĩa của di sản thì đã và đang dần mai một.

Ẩn chứa nhiều thông điệp của tiền nhân

Trong kiến trúc và di sản truyền thống Việt Nam, chữ viết không chỉ mang chức năng truyền tải thông tin. Những bức đại tự treo giữa chính điện, những đôi câu đối chạy dọc hai cột cái hay từng dòng văn bia được khắc trên đá đều là một bộ phận hữu cơ của kiến trúc. Chúng ẩn chứa những giá trị mỹ thuật, thư pháp, triết lý, tín ngưỡng và lịch sử.

Theo nhà thư pháp Kiều Quốc Khánh, trong suốt hàng trăm năm, chữ Hán Nôm là ngôn ngữ dùng phổ thông. Bởi vậy, sự hiện diện của khối văn tự này trong các cơ sở thờ tự, không gian tâm linh không chỉ là yếu tố lịch sử mà còn mang ý nghĩa biểu tượng, tạo nên cảm thức linh thiêng và tính trang nghiêm của không gian tín ngưỡng. Ở góc độ thứ hai, hệ thống văn tự này còn mang tính giáo dục. Những lời răn dạy về đạo hiếu, đạo nghĩa, về công đức tiền nhân được gửi gắm trong từng vế đối, từng bức đại tự. Nếu người xem không hiểu được nội dung, giá trị giáo dục ấy sẽ bị hạn chế.

Hệ thống bia đá, văn tự Hán Nôm đã mai một dần theo thời gian. (Ảnh trong bài: H.G)

Thư pháp gia Xuân Như Vũ Thanh Tùng thì cho rằng, nếu kiến trúc là phần xác thì chữ nghĩa chính là phần hồn của di tích. Một chữ “phúc”, một chữ “thọ”, một bức đại tự hay một đôi câu đối đều mang trong mình ngôn ngữ tạo hình riêng. Văn tự là một loại hình di sản. Giá trị của nó không chỉ nằm ở nội dung câu chữ mà còn ở nghệ thuật thư pháp, ở cấu trúc, bố cục, bút pháp và tinh thần thẩm mỹ đã được tích lũy qua hàng nghìn năm.

Không chỉ dừng ở giá trị nghệ thuật, hệ thống văn tự trong các cơ sở thờ tự còn là nguồn sử liệu gốc quan trọng, lưu giữ những thông tin mà nhiều tài liệu khác không còn ghi chép. Từ tên làng, tên tổng, địa giới hành chính qua từng thời kỳ, quá trình hình thành di tích, công lao của các bậc tiền nhân, những lần trùng tu, tôn tạo, đến phong tục, tín ngưỡng và đời sống xã hội của cộng đồng... đều có thể được lưu lại qua những dòng chữ. Chính vì thế đây là nguồn tư liệu có giá trị đặc biệt trong việc phục dựng lịch sử địa phương cũng như nhận diện bản sắc văn hóa của từng vùng đất.

Thực tế cho thấy, nhiều phát hiện quan trọng về lịch sử làng xã, về niên đại hay thân thế các nhân vật lịch sử đã được làm sáng tỏ từ nguồn văn tự tại các di tích. Không ít hoành phi, bia đá đã trở thành “tấm căn cước” của di tích. Có những ngôi chùa sau nhiều lần trùng tu, kiến trúc có thay đổi, song những dòng minh văn trên chuông đồng hay văn bia vẫn bảo tồn đã trở thành “chứng nhân” vượt thời gian.

Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu, thư pháp gia cho rằng, vấn đề hiện nay không còn chỉ là giữ gìn hiện vật nguyên gốc mà cần hướng đến việc “đánh thức” lớp thông tin, khai mở những tầng ý nghĩa đang được lưu giữ, ẩn dấu trong các văn tự tại các di tích.

Hoành phi, câu đối, minh văn, bia đá không đơn thuần là “tấm biển thông báo”. Chúng là tác phẩm mỹ thuật, là thành tố kiến trúc và là dấu ấn văn hóa của từng thời kỳ lịch sử.

Thư pháp gia Xuân Như Vũ Thanh Tùng

(Còn tiếp)

Đức Anh - Cát Tường

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/di-tim-loi-giai-gop-phan-phat-huy-gia-tri-van-tu-o-cac-di-tich-bai-1-di-san-van-con-nhung-it-nguoi-hieu-duoc-y-nghia.html