Địa phương gặp khó khi đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ
Cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại nhiều địa phương còn vướng từ khâu xác định nhu cầu, xây dựng tiêu chí đầu ra đến bố trí kinh phí và tìm đơn vị tiếp nhận kết quả nghiên cứu.
Mỗi địa phương một bài toán khó
Tại tọa đàm “Cơ chế đặt hàng thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Thực tiễn và giải pháp nâng cao hiệu quả”, bà Đinh Khánh Lê - Phòng Nghiên cứu chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Viện Nghiên cứu chính sách chiến lược đã chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai cơ chế đặt hàng tại Việt Nam.

Bà Đinh Khánh Lê - Phòng Nghiên cứu chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Viện Nghiên cứu chính sách chiến lược trình bày tham luận tại tọa đàm. Ảnh: HT.
Theo đó, phần lớn hoạt động vẫn tập trung ở khâu xây dựng cơ chế, tiếp nhận đề xuất, xác định và chuẩn bị nhiệm vụ; số liệu về nhiệm vụ hoàn thành, sản phẩm được ứng dụng, thương mại hóa và tác động kinh tế - xã hội còn hạn chế.
Đến ngày 6/8/2026, tỷ lệ giải ngân chung mới đạt 29,96%. Mặc dù không phải số liệu riêng cho nhiệm vụ đặt hàng, kết quả này cho thấy khó khăn trong chuyển hóa nguồn lực được bố trí thành các hoạt động thực tế.
Trong khi đó, quản lý tài chính vẫn còn thiên về dự toán, chứng từ và kiểm soát đầu vào; cơ chế khoán chi, điều chỉnh nhiệm vụ và chấp nhận rủi ro chưa được thực hiện đầy đủ. Đồng thời, nhiều lĩnh vực mới như AI, nền tảng số, dữ liệu và thử nghiệm công nghệ còn thiếu tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật và định mức chi, gây khó khăn cho lập dự toán, thẩm định, cấp kinh phí và quyết toán.
Doanh nghiệp thường chỉ tham gia vào giai đoạn muộn của nhiệm vụ. Các kết quả nghiên cứu từ Viện/Trường chủ yếu mới dừng ở mức độ sẵn sàng công nghệ quy mô phòng thí nghiệm (TRL 3-4), trong khi doanh nghiệp lại đòi hỏi sản phẩm hoàn thiện ở mức TRL 7-8 để áp dụng ngay vào sản xuất.
Ngoài những khó khăn chung, các địa phương cũng có những vướng mắc của riêng mình trong quá trình đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ. Tại Quảng Ninh, dù đã ban hành Quyết định 80/2026/QĐ-UBND về phân cấp quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đồng thời công bố danh mục bài toán lớn của tỉnh, việc chuyển nhu cầu thực tế thành nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể vẫn là thách thức.

Bà Vũ Thị Kim Chi - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh .
Theo chia sẻ của bà Vũ Thị Kim Chi - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh tại tọa đàm, cán bộ ở một số sở, ngành và cấp xã, phường còn lúng túng khi cụ thể hóa bài toán liên ngành thành tiêu chí kỹ thuật, sản phẩm đo lường được.
Cơ cấu doanh nghiệp cũng là một trở ngại. Hơn 98% doanh nghiệp trên địa bàn là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Với nguồn lực khoa học, công nghệ còn hạn chế, nhiều doanh nghiệp e ngại tham gia đặt hàng do khó bố trí vốn đối ứng và lo ngại rủi ro thất bại.
Nghiên cứu của viện, trường trên địa bàn còn thiên về lý thuyết, chưa bám sát thực tiễn địa phương.
Cuối cùng, tỉnh nhận thấy chưa có bộ tiêu chí chuẩn hóa để phân biệt hiệu quả đầu ra giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và đổi mới sáng tạo.

Bà Phạm Thị Sen Quỳnh - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng.
Tại Hải Phòng, theo bà Phạm Thị Sen Quỳnh - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, vướng mắc lớn nằm ở việc xác định thế nào là một “bài toán lớn” đủ điều kiện để đưa vào danh mục đặt hàng. Bà mong muốn được các chuyên gia, địa phương tham vấn trong việc xây dựng, xác định danh mục, công bố các bài toán lớn cũng như đặt hàng để triển khai, đặc biệt là với những bài toán có nhiều cấu phần.
Phú Thọ lại gặp khó ở khâu tìm đúng bài toán thực sự của doanh nghiệp. Theo đại diện Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh, quá trình khảo sát có thể kéo dài do những vấn đề ban đầu được nêu ra thường chưa phản ánh đầy đủ nguyên nhân gốc rễ. Địa phương phải xác định bài toán vừa phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp, vừa nằm trong khả năng nguồn lực và có đơn vị đủ năng lực thực hiện.
Thời gian chuẩn bị nhiệm vụ cũng tạo ra rủi ro. Từ khâu khảo sát, lập dự toán đến hoàn tất thủ tục đặt hàng có thể mất nhiều tháng hoặc hơn một năm. Trong khi công nghệ phát triển nhanh, giải pháp được lựa chọn ban đầu có nguy cơ không còn phù hợp khi nhiệm vụ bắt đầu triển khai.
Khó khăn về kinh phí cũng ảnh hưởng đến khả năng huy động chuyên gia. Đại diện Sở Khoa học và Công nghệ Phú Thọ cho biết mức chi trả cho chuyên gia, nhà khoa học và chi phí đi lại theo định mức hiện hành còn thấp, gây trở ngại khi mời chuyên gia tham gia tư vấn hoặc tham gia hội đồng.
Cần đổi cách đặt hàng và đánh giá kết quả
Tại tọa đàm, bà Đinh Khánh Lê đưa ra các đề xuất chính sách để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo đó, cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ cần được thiết kế phù hợp với từng loại hoạt động, thay vì áp dụng đồng loạt cho R&D, tài trợ nghiên cứu, hỗ trợ đổi mới sáng tạo hay mua sắm công nghệ đã có.
Việc lựa chọn nhiệm vụ cũng cần căn cứ vào năng lực của từng bộ, ngành và địa phương. Những nơi có hệ sinh thái khoa học, công nghệ phát triển và doanh nghiệp đủ khả năng dẫn dắt có thể triển khai một số cơ chế như cạnh tranh nhiều giai đoạn, đặt hàng thời gian dài. Với địa phương còn hạn chế về năng lực, các hình thức tài trợ và hỗ trợ nên tiếp tục được duy trì, không nhất thiết đặt hàng khi chưa xác định rõ nhu cầu và khả năng thực hiện.
Đối với các nghiên cứu có độ bất định cao, cần mở rộng có chọn lọc việc cho nhiều nhóm cùng đề xuất giải pháp công nghệ, đánh giá và cấp kinh phí theo giai đoạn đối với nghiên cứu và phát triển có mức bất định cao.
Về chính sách tài chính và quản lý rủi ro, hợp đồng và phương thức khoán chi nên tương ứng với mức độ rủi ro của nhiệm vụ; các điều kiện điều chỉnh, tạm dừng hoặc chấm dứt nghiên cứu khi không đạt mục tiêu cần được quy định rõ.
Để kết quả R&D có cơ hội đi vào thực tế, cần thí điểm mua sắm tiền thương mại, mua thử nghiệm và cơ chế Nhà nước trở thành khách hàng đầu tiên trong những điều kiện cụ thể.
Sự phối hợp giữa Nhà nước, viện, trường và doanh nghiệp cần được thiết lập từ khâu xác định bài toán, triển khai nghiên cứu đến chia sẻ nguồn lực, rủi ro và trách nhiệm tiếp nhận kết quả.
Cùng với đó, cần nâng cao năng lực của cơ quan đặt hàng thông qua mạng lưới chuyên gia tư vấn, các tổ chức trung gian và kho bài toán dùng chung. Đội ngũ cán bộ quản lý cũng cần được trang bị kỹ năng xác định nhu cầu, xây dựng tiêu chí đầu ra và đánh giá tính khả thi của nhiệm vụ.
Những vướng mắc tại Quảng Ninh, Hải Phòng và Phú Thọ cho thấy cơ chế đặt hàng không chỉ phụ thuộc vào quy định chung mà còn cần năng lực xác định bài toán, phối hợp nguồn lực và đánh giá kết quả tại từng địa phương. Khi các khâu này chưa được kết nối, nhiệm vụ nghiên cứu khó chuyển thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu thực tế.
