Diễn biến vụ án chưa định giá 4 thửa đất 'bị chiếm đoạt': Bị cáo kháng cáo bản án sơ thẩm

Liên quan vụ án 'Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt 4 thửa đất' tại TP HCM dù chưa định giá số tài sản bị chiếm đoạt nhưng tòa sơ thẩm đã mở phiên xử; bị cáo đã kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.

Như PLVN đã phản ánh, TAND TP HCM mới đây mở phiên xét xử bị cáo Thái Khắc Hoàng (SN 1972, ngụ phường Tân Hưng) về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Dù tòa án xác định số tài sản “bị chiếm đoạt” chưa được định giá, nhưng HĐXX vẫn tuyên bị cáo 18 năm tù.

Theo cáo trạng, bị hại trong vụ án là người đàn ông đại diện nhóm người chủ sử dụng 4 thửa đất 263, 264, 265, 267, tờ bản đồ 02, phường Phú Hữu, quận 9 (cũ). Bị hại cũng đồng thời là chủ một doanh nghiệp tư nhân (DNTN).

Năm 2010, bị cáo và chủ đất ký hợp đồng mua bán 4 thửa đất trên, giá 58 tỷ đồng. Việc trả tiền chia làm 3 đợt, mỗi đợt tương ứng mốc thời gian sau khi hoàn thành một số công việc. Bị cáo đã trả 3 tỷ đồng là tiền đợt 1. Rắc rối phát sinh khi hai bên thỏa thuận bên bán sẽ chuyển đổi DNTN đứng tên mình thành Cty cổ phần (CTCP) để Hoàng thuận tiện xin giấy phép xây chung cư; đồng thời hỗ trợ Hoàng thủ tục pháp lý với 2.266m2 đất rạch xung quanh (chưa có sổ đỏ).

Hai bên ký hàng loạt giấy tờ hợp thức hóa việc chuyển đổi DNTN thành CTCP. 4 thửa đất được chuyển thành tên CTCP có cơ cấu bị hại góp 90 tỷ đồng (tương đương 89,11%), bị cáo 10 tỷ đồng (9,9%)... Hai bên tiếp tục ký các văn bản khác, trong đó “Biên bản cam kết” ghi ngày 18/6/2010 nội dung bị hại nhận đủ 35 tỷ đồng tiền mặt để chuyển nhượng 3,5 triệu cổ phần cho Hoàng; CTCP tăng vốn từ 101 lên 121 tỷ đồng và thay đổi cơ cấu góp vốn…

Điểm mấu chốt trong vụ án phát sinh từ con số 35 tỷ đồng nêu trên. Bên bán sau đó tố cáo, cho rằng Hoàng “làm giả giấy tờ”. Về phía Hoàng, cho rằng chữ ký bên bán là thật; 35 tỷ đồng gồm 3 tỷ đã trả tiền mua đất đợt 1; và 32 tỷ đồng mua 2.266m2 đất rạch xung quanh; bên bán đã nhận đủ và hợp thức hóa bằng cách chuyển nhượng cổ phần. Về phía bị hại, không thừa nhận bán 2.266m2 đất rạch, không nhận 32 tỷ đồng, không bán cổ phần. Về phía cơ quan điều tra, xác định chữ ký của bị hại trong biên bản là thật; nhưng không có việc Hoàng đưa 32 tỷ đồng tiền mặt.

Bản án cho rằng Hoàng “đã chiếm đoạt của bị hại 4 thửa đất qua việc chuyển đổi DNTN thành CTCP”; tội phạm hoàn thành tại thời điểm 4 thửa đất sang tên Cty. Bốn thửa đất đã được trưng cầu giám định ngày 29/8/2024 nhưng đến nay chưa có kết quả định giá.

Tranh luận diễn ra về vấn đề vì 4 thửa đất chưa được định giá; trong khi yếu tố giá trị tài sản là bắt buộc phải có trong tội danh chiếm đoạt tài sản để định khung, định tội; nên chưa có căn cứ để xét xử. HĐXX đã lấy con số 32 tỷ đồng để làm căn cứ. Bản án 74/2026/HSST cho rằng “trị giá tài sản Hoàng đã chiếm đoạt của bị hại là 32 tỷ đồng bị hại ký (khống) “đã nhận đủ” nhưng thực tế là không có nhận”, “không cần phải chờ kết quả định giá từ cơ quan chức năng, kéo dài thời gian giải quyết vụ án không cần thiết”. HĐXX cho rằng 32 tỷ đồng “là định lượng trị giá tài sản bị chiếm đoạt để xác định trách nhiệm hình sự với bị cáo Hoàng”.

Một tình tiết khác đáng lưu ý, ở giai đoạn trước, bị cáo bị xác định chiếm đoạt cổ phần của bị hại, nên đã nộp 500 triệu để khắc phục hậu quả. Nhưng bản án lại xác định bị cáo chiếm đoạt 4 thửa đất; và bị cáo không phải bồi thường; và trả lại bị cáo 500 triệu này.

Sự việc diễn ra từ năm 2010. (Ảnh trong bài: Bùi Yên)

Luật sư (LS) Nguyễn Hoài Nghĩa (Đoàn LS TP HCM) nhận định, trong vụ án này, cần xác định rõ ràng yếu tố tài sản nào bị chiếm đoạt, giá trị tài sản đó và hậu quả đã xảy ra hay chưa. “Nếu xác định tài sản bị chiếm đoạt là 4 thửa đất, thì buộc phải định giá các thửa đất đó, chứ không thể lấy một con số khác của quan hệ khác để “gán” vào. Các bên đều khai 4 thửa đất được góp vào Cty để thực hiện dự án nên đây là tài sản chung của Cty, không cá nhân nào tự ý quyết định được. Hiện 4 thửa đất vẫn nguyên trạng, nên tôi cho rằng hậu quả vụ án chưa xảy ra”, LS Nghĩa nêu quan điểm.

Cũng theo LS Nghĩa, với 3,5 triệu cổ phần chuyển nhượng từ bị hại sang bị cáo, đã xác định việc ký chuyển nhượng có sự gian dối, giả cách. “Số tiền tương ứng với cổ phần chưa được bị hại góp nên hợp đồng này là khống, bị vô hiệu. Tôi cho rằng đây là một quan hệ hoàn toàn khác biệt, chứ không phải là một thủ đoạn để chiếm đoạt đất, nên không thể lấy con số “khống” này để định tội”, LS Nghĩa nói.

Về phía LS Bùi Thị Lương (Đoàn LS TP Hà Nội) nêu quan điểm cho rằng, trong vụ án này, cơ quan tố tụng cần xác định rõ giao dịch nào là thực chất, giao dịch nào là giả cách? Tài sản nào bị chiếm đoạt, hậu quả vụ án đã xảy ra hay chưa? Hành vi các bên lập các hợp đồng về cổ phần là giao dịch kinh doanh thương mại, nếu gian dối thì bị xử phạt hành chính, khôi phục lại tình trạng ban đầu, hay bị xử lý hình sự về một tội danh riêng? “Sự việc đã xảy ra 16 năm, cơ quan tố tụng từ cấp quận cũ đến cấp cao hơn đều đã nhiều lần có các ý kiến, quan điểm; nên rất cần thiết có những sự xác định rõ ràng, rạch ròi, đúng quy định pháp luật về vụ việc để tránh phát sinh phức tạp kéo dài”, LS Lương nêu quan điểm.

Bùi Yên

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/dien-bien-vu-an-chua-dinh-gia-4-thua-dat-bi-chiem-doat-bi-cao-khang-cao-ban-an-so-tham.html