Điều chỉnh điểm cộng để thí sinh cạnh tranh công bằng hơn
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD-ĐT nhấn mạnh trong tuyển sinh, công bằng chính là khai thác và đánh giá đúng năng lực của người học, người dự tuyển. Như vậy, thí sinh trúng tuyển cần được lựa chọn dựa trên năng lực thực chất, phù hợp với yêu cầu của nhóm ngành đào tạo.
Điều chỉnh điểm cộng để thí sinh cạnh tranh công bằng hơn
Chia sẻ tại Talkshow "Đổi mới tuyển sinh đại học: Công bằng, thực chất và lộ trình dài hạn" do Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD-ĐT cho biết, để chuẩn bị cho công tác tuyển sinh năm 2027 và giai đoạn tiếp theo, Bộ GD-ĐT hướng tới mục tiêu quan trọng nhất là bảo đảm tính khách quan, minh bạch và công bằng.
Vì vậy, các điều chỉnh hiện nay tập trung vào 3 nội dung: mở rộng đối tượng tuyển sinh; đơn giản hóa các phương thức tuyển sinh; bảo đảm công bằng thực chất trong tuyển sinh, qua đó tuyển chọn được nguồn thí sinh chất lượng cho các trường đại học.

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD-ĐT chia sẻ tại Talkshow "Đổi mới tuyển sinh đại học: Công bằng, thực chất và lộ trình dài hạn". Ảnh: Phạm Thắng
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo nhấn mạnh, trong tuyển sinh, công bằng là khai thác và đánh giá đúng năng lực của người học, người dự tuyển. Như vậy, thí sinh trúng tuyển cần được lựa chọn dựa trên năng lực thực chất, phù hợp với yêu cầu của nhóm ngành đào tạo.
Dự thảo Thông tư sửa đổi quy chế tuyển sinh đề xuất từ năm 2027 không còn điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định đối với chứng chỉ, thành tích hoặc tiêu chí bổ sung. Trên các diễn đàn, đề xuất này đang ghi nhận nhiều ý kiến khác nhau. Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, cách hiểu “bỏ chứng chỉ ngoại ngữ” hay "đưa chứng chỉ ngoại ngữ ra khỏi các phương thức xét tuyển" là không chính xác. Ngoại ngữ vẫn là một khâu quan trọng trong tuyển sinh, trong tổ chức đào tạo, cũng như cơ hội nghề nghiệp của sinh viên sau này.
Cách thức điều chỉnh được đặt ra nhằm bảo đảm quyền lợi của thí sinh và tính công bằng trong tuyển sinh. Theo đó, chứng chỉ ngoại ngữ vẫn được sử dụng để quy đổi, thay thế điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển theo quy tắc công khai; chứng minh yêu cầu ngoại ngữ đầu vào của chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài; hoặc được xem xét công nhận học phần, chuẩn đầu ra theo quy định. Nội dung đề xuất thay đổi là không cộng thêm điểm ngoài thang đánh giá chính do từng trường tự quy định đối với chứng chỉ, thành tích hoặc tiêu chí bổ sung.
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo phân tích, "điểm cộng" thực chất là phần điểm được thêm vào kết quả xét tuyển. Có những tổ hợp xét tuyển hoặc nhóm ngành đào tạo, ngoại ngữ không phải năng lực cốt lõi để cạnh tranh đầu vào, không phải yêu cầu thiết yếu nhất của chương trình đào tạo. Đơn cử như một ngành đòi hỏi năng lực quan trọng nhất là các môn khoa học tự nhiên, nếu hai thí sinh có năng lực này nhưng một em lại được cộng điểm và trúng tuyển nhờ chứng chỉ ngoại ngữ, thì người trúng tuyển chưa chắc đã có năng lực cao hơn đối với ngành học, trong khi thí sinh còn lại có thể bị thua thiệt.
Đặc biệt, có những thí sinh ở vùng sâu, vùng xa không có điều kiện tiếp cận với các chứng chỉ ngoại ngữ; hoặc không chú trọng đến chứng chỉ ngoại ngữ từ sớm bởi khi nhìn vào chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra, các em xác định rõ những nhóm năng lực cốt lõi của ngành học và tập trung nhiều hơn vào những năng lực đó.
"Chúng tôi không phủ nhận ngoại ngữ là một năng lực quan trọng, bởi ngoại ngữ không chỉ có ý nghĩa trong tuyển sinh mà còn rất quan trọng trong học tập và cơ hội phát triển nghề nghiệp. Tuy nhiên, khi cạnh tranh đầu vào một chương trình đào tạo, thí sinh cần được đánh giá trên cùng nhóm năng lực cốt lõi phù hợp với chương trình đó", GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho hay.

Các đại biểu tham dự Talkshow "Đổi mới tuyển sinh đại học: Công bằng, thực chất và lộ trình dài hạn". Ảnh: Phạm Thắng
Bên cạnh đó, theo ông, quy định về cộng điểm giữa các trường đại học hiện nay không đồng nhất, vô hình trung có thể tạo ra sự bất công giữa các thí sinh. Cùng một chứng chỉ IELTS 6.0 hoặc 6.5, nhưng trường này có thể cộng 1,5 điểm, trong khi trường khác chỉ cộng 0,25 điểm. Đây cũng là vấn đề đặt ra khi nói đến tính công bằng trong tuyển sinh.
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho biết, cách thức điều chỉnh được Bộ GD-ĐT đề xuất nhằm hướng tới việc thí sinh phải cạnh tranh bằng năng lực phù hợp với ngành đào tạo. Trường hợp một trường đại học nhận thấy nhóm ngành đào tạo trước đây chưa có môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển, nhưng năng lực ngoại ngữ vẫn cần thiết, nhà trường có thể nghiên cứu, bổ sung yêu cầu này.
"Khi xét tuyển đúng, xét tuyển trúng, thí sinh không phải kéo dài thời gian học tập do năng lực đầu vào chưa phù hợp. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn sẽ cao hơn, đồng thời người học có thể tham gia thị trường lao động sớm hơn, thay vì kéo dài thời gian học tập do những vấn đề từ đầu vào", GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho hay.
Cần phân biệt việc sử dụng chứng chỉ phục vụ tuyển sinh với năng lực ngoại ngữ thực chất
Một số ý kiến cho rằng, việc “IELTS không còn được cộng điểm” có đang mâu thuẫn khi Nghị quyết 71 đặt ra định hướng rất lớn: Tăng cường dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Nêu quan điểm về vấn đề này, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo nhấn mạnh, cần phân biệt rõ giữa việc sử dụng tiếng Anh, chứng chỉ IELTS phục vụ tuyển sinh với năng lực ngoại ngữ phục vụ học tập và nghiên cứu. Khi chỉ đặt mục tiêu sử dụng chứng chỉ để phục vụ tuyển sinh, chúng ta dễ đặt nặng vấn đề điểm số. Còn khi hướng tới năng lực ngoại ngữ đủ mạnh để phục vụ học tập, nghiên cứu thì người học phải được “nhúng” trong môi trường ngoại ngữ. Khi đó mới thực sự đi vào bản chất của mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Thí sinh tham gia Ngày hội lựa chọn nguyện vọng xét tuyển đại học - cao đẳng 2026. Ảnh: Xuân Quý
Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, trong quá trình học tập, chứng chỉ chỉ là một thước đo, cho thấy năng lực và kết quả tích lũy của người học đã đạt đến một mức độ nhất định. Mục tiêu quan trọng hơn là khi học tập, nghiên cứu, người học có thể tiếp cận, hấp thụ tri thức khoa học và công nghệ của thế giới, đồng thời truyền tải những thành tựu khoa học, công nghệ của Việt Nam cũng như văn hóa dân tộc ra thế giới.
"Muốn có được năng lực đó, người học phải có thực học, có năng lực thực chất, không chỉ được đo lường bằng việc đạt IELTS 5.5 hay 6.0. Khi nói đến mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, chúng ta hướng tới năng lực sử dụng tiếng Anh thực chất, chứ không phải chỉ hướng tới chứng chỉ để phục vụ tuyển sinh", GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho hay.
Chứng chỉ ngoại ngữ vẫn là lợi thế khi xét tuyển vào ngành học phù hợp
Liên quan đến lộ trình triển khai, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho biết, Dự thảo đang được lấy ý kiến từ thí sinh, phụ huynh, xã hội và các cơ sở giáo dục đại học, trong đó có những ý kiến khác nhau về lộ trình và thời gian thực hiện. Bộ GD-ĐT đang nghiên cứu, phân tích đầy đủ các đóng góp để xây dựng phương án đề xuất hợp lý, phù hợp thực tiễn và bảo đảm quyền lợi của thí sinh.
Với một số ý kiến cho rằng những học sinh đang học lớp 10, 11, thậm chí từ bậc THCS đã xây dựng kế hoạch học tập, đầu tư ngoại ngữ dựa trên những quy định đang có; nếu áp dụng từ năm 2027, các em có thể cảm thấy mình đang phải thích ứng với một "luật chơi" thay đổi giữa chừng, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo nhấn mạnh, học ngoại ngữ là quá trình tích lũy lâu dài về vốn từ, kiến thức và năng lực sử dụng ngôn ngữ.
Việc học ngoại ngữ từ sớm là cần thiết, trước hết phục vụ chính người học, giúp các em tiếp nhận kiến thức mới, tiếp cận tri thức quốc tế và học tập trong môi trường giáo dục có tính hội nhập cao hơn, thay vì chỉ hướng tới có chứng chỉ phục vụ xét tuyển.

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho rằng, cần phân biệt giữa quá trình học ngoại ngữ lâu dài với việc sử dụng chứng chỉ để phục vụ tuyển sinh. Ảnh: Phạm Thắng
Đối với những thí sinh đã có chứng chỉ ngoại ngữ khi học THPT, các em vẫn có cơ hội xét tuyển vào những ngành, chương trình đào tạo có yêu cầu về năng lực ngoại ngữ. Các trường đại học có thể xây dựng phương thức xét tuyển phù hợp, không bỏ sót những thí sinh có năng lực ngoại ngữ nếu năng lực này cần thiết đối với chương trình đào tạo.
Đối với những chương trình không yêu cầu ngoại ngữ là năng lực đầu vào bắt buộc, các trường cần cân nhắc để bảo đảm công bằng thực chất. Khi chương trình không đặt ra yêu cầu về ngoại ngữ, việc đánh giá và phân loại thí sinh cần dựa trên những nhóm năng lực phù hợp với yêu cầu của ngành đào tạo.
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo khuyên thí sinh cần cân nhắc sự phù hợp giữa năng lực của bản thân với yêu cầu của ngành học. Nếu được cộng điểm để trúng tuyển vào một chương trình, trong khi năng lực đầu vào chưa thực sự phù hợp, các em có thể gặp khó khăn trong quá trình học tập, thậm chí khó hoàn thành chương trình đúng hạn.


