Điều cộng đồng doanh nghiệp mong đợi

Từ tháng 4/2026 đến nay, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã bốn lần tổng hợp và chuyển tới các bộ, ngành hơn 210 kiến nghị, vướng mắc của cộng đồng doanh nghiệp.

Từ tháng 4/2026 đến nay, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã bốn lần tổng hợp và chuyển tới các bộ, ngành hơn 210 kiến nghị, vướng mắc của cộng đồng doanh nghiệp. Qua đó cho thấy, bên cạnh các chính sách hỗ trợ, điều doanh nghiệp mong đợi hơn cả là sự an toàn pháp lý: Làm đúng quy định thì yên tâm đầu tư, sản xuất, kinh doanh lâu dài.

Từ tháng 4/2026 đến nay, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã bốn lần tổng hợp và chuyển tới các bộ, ngành hơn 210 kiến nghị, vướng mắc của cộng đồng doanh nghiệp. Qua đó cho thấy, bên cạnh các chính sách hỗ trợ, điều doanh nghiệp mong đợi hơn cả là sự an toàn pháp lý: Làm đúng quy định thì yên tâm đầu tư, sản xuất, kinh doanh lâu dài.

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước, với yêu cầu đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị khẳng định, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Thực hiện các chủ trương lớn đó, thời gian qua Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành đã rà soát, sửa đổi hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh với quyết tâm cao, được cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn thực thi vẫn ghi nhận một số vấn đề cần tiếp tục được quan tâm tháo gỡ.

Nỗ lực tháo gỡ các vướng mắc

Tổng hợp các phản ánh gần đây của doanh nghiệp, có thể thấy ba nhóm băn khoăn chủ yếu.

Thứ nhất, việc áp dụng quy định, cách hiểu mới cho những giao dịch đã hoàn thành. Một doanh nghiệp may mặc ở phía nam nhập nguyên liệu, nộp đủ thuế, giao một phần công đoạn cho công ty con sở hữu 100% vốn gia công theo hợp đồng đã thông báo với cơ quan hải quan, rồi xuất khẩu toàn bộ thành phẩm. Hồ sơ hoàn thuế đã được chấp thuận, nhưng sau đó khi kiểm tra lại, doanh nghiệp bị thu hồi 8,8 tỷ đồng với lý do “không tự sản xuất”. Một số doanh nghiệp nhập khẩu thiết bị y tế phản ánh việc phân loại lại mã HS dẫn đến truy thu đối với cả những tờ khai đã hoàn thành từ nhiều năm trước, dù tại thời điểm khai báo doanh nghiệp thực hiện theo hướng dẫn chuyên ngành đang có hiệu lực. Trong lĩnh vực nhà ở, một số dự án trước đây được chấp thuận không phải bố trí quỹ đất nhà ở xã hội theo quy định tại thời điểm đó, nay được yêu cầu xác định lại nghĩa vụ.

Nghị quyết số 68-NQ/TW đã nêu rõ yêu cầu không hồi tố các quy định pháp luật để xử lý bất lợi cho doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là cần sớm thể chế hóa đầy đủ tinh thần này thành quy định cụ thể, để cán bộ, công chức thực thi ở cơ sở có căn cứ rõ ràng khi áp dụng.

Thứ hai, việc phân định trách nhiệm khi chậm trễ, vướng mắc phát sinh từ nguyên nhân khách quan. Một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại một tỉnh phía bắc phản ánh bị tính tiền thuê đất từ ngày có quyết định cho thuê và bị áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với khoản tiền hơn 5 tỷ đồng, trong khi trên thực tế chưa được bàn giao đất. Một doanh nghiệp khoa học-công nghệ đầu tư gần 100 tỷ đồng vốn tự có xây dựng nhà máy xử lý rác theo công nghệ tuần hoàn, sau bốn năm vẫn chưa hoàn tất thủ tục đầu tư, chưa có hợp đồng xử lý rác, trong khi phát sinh hơn 5 tỷ đồng tiền thuê đất và tiền chậm nộp. Nhiều doanh nghiệp phải nộp khoản bổ sung 3,6% mỗi năm cho khoảng thời gian chưa xác định được giá đất. Doanh nghiệp nhập khẩu sữa lo ngại bị xử phạt khi lô hàng cập cảng khác cửa khẩu đã đăng ký, dù việc đổi cảng do hãng tàu quyết định.

Xuất nhập khẩu hàng hóa tại cảng Cái Mép, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: ĐỖ TUẤN HÙNG)

Xuất nhập khẩu hàng hóa tại cảng Cái Mép, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: ĐỖ TUẤN HÙNG)

Điểm chung của các phản ánh này là mong muốn nguyên tắc “rủi ro đi liền với trách nhiệm”, vốn đã được thừa nhận trong quan hệ dân sự, được vận dụng nhất quán hơn trong quan hệ giữa cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Thứ ba, độ trễ của văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Đầu năm nay, khi Luật Hóa chất có hiệu lực, một số nghị định, thông tư hướng dẫn chưa kịp ban hành, khiến hàng hóa nguyên liệu phải lưu tại cảng hơn nửa tháng. Từ ngày 1/7 vừa qua, tình huống tương tự phát sinh với sản phẩm an ninh mạng khi quy định cũ hết hiệu lực trong lúc nghị định mới đang được trình. Trong lĩnh vực y tế, có thủ tục hành chính mới công bố vẫn dẫn chiếu văn bản đã hết hiệu lực, khiến địa phương lúng túng khi tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy. Trong lĩnh vực thú y, giấy phép lưu hành có thời hạn 5 năm nhưng thời gian đăng ký lại kéo dài từ 6 tháng đến hơn 1 năm.

Đây chủ yếu là vấn đề về quy trình. Khi luật có hiệu lực sớm, văn bản hướng dẫn được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và có hiệu lực gần như ngay khi ký ban hành, thì khoảng thời gian tối thiểu 45 ngày để đối tượng chịu tác động chuẩn bị thực hiện chưa được bảo đảm trong nhiều trường hợp.

Đổi mới nhanh đi đôi với đồng bộ, ổn định

Cần nhìn nhận khách quan, những vướng mắc nêu trên phần nhiều phát sinh trong quá trình đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật. Hai năm qua, hệ thống pháp luật về kinh doanh được rà soát, sửa đổi với nhịp độ rất cao.

Cùng với tốc độ, yêu cầu về tính đồng bộ và khả năng dự báo của chính sách cần được coi trọng tương xứng, như Nghị quyết số 66-NQ/TW đã chỉ rõ: Các quy định của luật phải mang tính ổn định, đơn giản, dễ thực hiện. Luật càng mang tính khung thì yêu cầu về chất lượng của văn bản dưới luật càng cao, trong khi thời gian soạn thảo, tham vấn các văn bản này thường ngắn hơn. Một số luật liên quan được sửa đổi ở những thời điểm khác nhau cho nên vẫn còn điểm chưa thống nhất...

Một chỉ báo đáng lưu ý về chất lượng đối thoại chính sách: Trong đợt tổng rà soát năm 2025, hơn 2.000 phản ánh vướng mắc được gửi về, trong đó khoảng 38% được các bộ, ngành xác định là vướng mắc cần xử lý; tỷ lệ này còn khác nhau đáng kể giữa các cơ quan. Nhiều ý kiến trả lời có căn cứ pháp lý chặt chẽ, song chủ yếu xem xét từ góc độ nội dung của từng văn bản. Trong khi đó, doanh nghiệp là đối tượng trực tiếp thực hiện lại quan tâm đến tính khả thi trong thực tế, sự tương thích giữa nhiều quy định cùng điều chỉnh một hoạt động, và mức độ tương xứng giữa chi phí tuân thủ với mục tiêu quản lý. Thu hẹp khoảng cách giữa hai góc nhìn này sẽ góp phần nâng cao chất lượng xây dựng và thi hành pháp luật.

Từ hỗ trợ đến bảo đảm

Cộng đồng doanh nghiệp trông đợi Kỳ họp Quốc hội tới đây sẽ hiện thực hóa chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: “Không để một quy định lạc hậu làm mất một cơ hội phát triển. Không để một khoảng trống pháp lý làm chậm một quyết định đúng”. Và vấn đề quan trọng nữa, đi cùng với các chính sách hỗ trợ, Nhà nước tiếp tục tăng cường các bảo đảm pháp lý để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn. Từ thực tiễn, xin kiến nghị năm nhóm giải pháp.

Một là, cụ thể hóa trong luật nguyên tắc bảo vệ việc tuân thủ hợp pháp. Doanh nghiệp đã kê khai, thực hiện đúng hướng dẫn có hiệu lực tại thời điểm thực hiện thì không bị truy thu, xử phạt khi cách hiểu, cách áp dụng về sau thay đổi. Quyết định hành chính đã ban hành hợp pháp được tiếp tục thực hiện khi pháp luật thay đổi, trừ trường hợp quy định mới có lợi hơn. Nguyên tắc này cần được thể hiện trong điều khoản chuyển tiếp của các luật sửa đổi, bổ sung và được hướng dẫn đủ cụ thể để thuận lợi cho việc áp dụng.

Hai là, làm rõ hơn nguyên tắc phân định trách nhiệm trong quan hệ giữa cơ quan nhà nước và doanh nghiệp. Nghĩa vụ tài chính về đất đai nên được tính từ thời điểm bàn giao đất trên thực tế; xem xét không thu khoản bổ sung đối với thời gian chậm trễ không do lỗi của doanh nghiệp; không xử phạt đối với hành vi phát sinh từ nguyên nhân khách quan đã được xác nhận; cân nhắc tạm dừng biện pháp cưỡng chế khi nghĩa vụ đang trong quá trình khiếu nại hoặc chờ kết quả thủ tục thỏa thuận song phương theo các hiệp định thuế. Đây là những giải pháp hướng tới sự công bằng, hầu như không làm phát sinh chi phí ngân sách.

Ba là, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong ban hành văn bản quy định chi tiết. Bảo đảm văn bản quy định chi tiết có hiệu lực cùng thời điểm với luật; trường hợp chưa kịp ban hành, cần có điều khoản cho phép tiếp tục áp dụng quy định hiện hành đến khi có hướng dẫn mới. Thực hiện nghiêm quy định về thời gian tối thiểu 45 ngày trước khi văn bản có hiệu lực; các trường hợp ngoại lệ cần được giải trình rõ. Việc đánh giá tác động cần chú trọng hơn tới khâu thực thi: Doanh nghiệp sẽ thực hiện quy định như thế nào, với chi phí bao nhiêu.

Bốn là, thực hiện thực chất chủ trương chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW. Việc cắt giảm thủ tục cần hướng tới giảm nghĩa vụ thực tế của doanh nghiệp chứ không dừng ở việc gộp biểu mẫu, gộp thủ tục. Hậu kiểm hiệu quả đòi hỏi dữ liệu liên thông để cơ quan quản lý chủ động đối soát, phân loại theo mức độ rủi ro để kiểm tra có trọng tâm, và tiêu chí công khai, minh bạch.

Năm là, hoàn thiện cơ chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về vướng mắc pháp lý. Đối với những phản ánh mà cơ quan chủ trì soạn thảo và doanh nghiệp còn ý kiến khác nhau, nên có một đầu mối rà soát khách quan, với tiêu chí thống nhất và công khai kết quả, qua đó tăng cường đối thoại, tạo đồng thuận trong xây dựng và thực thi chính sách.

ĐẬU ANH TUẤN Phó Tổng Thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/dieu-cong-dong-doanh-nghiep-mong-doi-post995932.html