Tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển
Thảo luận tại Tổ 4 (gồm Đoàn ĐBQH TP. Đồng Nai; Quảng Trị và Điện Biên) về dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các ĐBQH đánh giá cao nội dung dự án Luật có ý nghĩa quan trọng trong việc thể chế hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển.

Đoàn ĐBQH TP. Đồng Nai, Quảng Trị và Điện Biên thảo luận tại Tổ 4. Ảnh: Lâm Hiển
Ưu tiên doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng

ĐBQH Lê Nữ Thùy Dương phát biểu thảo luận tại Tổ 4. Ảnh: Lâm Hiển
Thảo luận tại Tổ 4 về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, ĐBQH Lê Nữ Thuỳ Dương (TP. Đồng Nai) đánh giá cao các chính sách tích cực, ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp do phụ nữ, người khuyết tật làm chủ, doanh nghiệp dùng nhiều lao động nữ, doanh nghiệp ở miền núi, biên giới, hải đảo. Tuy nhiên, theo đại biểu việc ưu tiên hỗ trợ cần xét thêm yếu tố các ngành nghề được tập trung phát triển, cụ thể là các lĩnh vực, ngành nghề hỗ trợ cho hoặc liên quan đến chuỗi cung ứng của các ngành nghề ưu đãi đầu tư.
“Chính sách này bên cạnh hỗ trợ các đối tượng yếu thế cũng cần khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của các ngành, nghề ưu đãi đầu tư, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực hỗ trợ”, ĐBQH Lê Nữ Thùy Dương đề nghị.

Các đại biểu tham dự phiên họp tổ. Ảnh: Lâm Hiển
Về tiếp cận vốn, đại biểu cho rằng để bảo đảm nguyên tắc tự chủ cấp tín dụng an toàn theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, cần sớm có hướng dẫn cụ thể về định giá, giao dịch bảo đảm, xử lý tài sản, thu hồi nợ đối với các hình thức cho vay dựa trên dữ liệu, dòng tiền, tài sản vô hình. Đại biểu đề nghị sửa khoản 1 Điều 8 theo hướng “Chính phủ có chính sách để tổ chức tín dụng mở rộng cấp tín dụng trên cơ sở đảm bảo các quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Cho rằng Điều 8 chưa có quy định về việc Nhà nước cấp bù lãi suất cho tổ chức tín dụng tài trợ các nhóm doanh nghiệp cần ưu tiên, do đó đại biểu đề xuất trong từng thời kỳ, Chính phủ quyết định chính sách cấp bù lãi suất, thực hiện thông qua tổ chức tín dụng, cho khoản vay của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển dịch xanh và doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh.
Với quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 3 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, đại biểu đề nghị tính thời gian miễn thuế từ khi phát sinh doanh thu hoặc thu nhập tính thuế, tùy phương pháp tính thuế; thời điểm phát sinh này trong vòng 3 năm kể từ khi doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký lần đầu.
Liên quan đến quy định về mặt bằng sản xuất, đại biểu Lê Nữ Thùy Dương nêu thực tế: Hiện nay, đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê đất trong khu công nghiệp, các chủ đầu tư hạ tầng thường dành mức ưu đãi trong tiền thuê lại đất. Tuy nhiên, các nội dung hỗ trợ tại điểm b khoản 1 Điều 10 chưa bao gồm phần tiền thuê đất mà chủ đầu tư phải nộp Nhà nước.
Đại biểu đề nghị bổ sung nội dung “hỗ trợ giảm tiền thuê đất phải nộp Nhà nước đối với đất bố trí cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê lại”, tạo động lực để chủ đầu tư dành quỹ đất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Với việc hoàn thiện các quy định nêu trên, Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ thực sự trở thành công cụ thiết thực, hiệu quả, góp phần để doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển nhanh, bền vững và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của nền kinh tế, đại biểu Lê Nữ Thuỳ Dương tin tưởng.
Làm rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp thuộc các nhóm đối tượng ưu tiên
Về chính sách ưu tiên đối với doanh nghiệp ở miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Điều 17, ĐBQH Lò Thị Luyến (Điện Biên) nhất trí cao với việc dự thảo bổ sung các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp do phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số làm chủ và doanh nghiệp ở miền núi, biên giới, hải đảo.
"Đây là chính sách có ý nghĩa thiết thực đối với các địa phương miền núi, biên giới như tỉnh Điện Biên...", ĐBQH Lò Thị Luyến nhấn mạnh.

ĐBQH Lò Thị Luyến (Điện Biên) phát biểu thảo luận Tổ 4. Ảnh Lâm Hiển
Tuy nhiên, theo đại biểu Lò Thị Luyến dự thảo cần làm rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp thuộc các nhóm đối tượng ưu tiên. Cụ thể, đối với doanh nghiệp ở miền núi, biên giới, hải đảo, cần xác định căn cứ theo địa chỉ trụ sở chính, địa điểm sản xuất, kinh doanh hay địa bàn thực hiện dự án đầu tư.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu bổ sung nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số vào đối tượng được ưu tiên hỗ trợ tại Điều 17; thống nhất với điểm b khoản 5 Điều 5 về nguyên tắc lựa chọn đối tượng hỗ trợ.
Đồng thời, giao Chính phủ quy định tiêu chí định lượng cụ thể về tỷ lệ lao động là người dân tộc thiểu số, địa bàn sản xuất, kinh doanh và điều kiện hưởng chính sách; bảo đảm dễ xác định, dễ áp dụng và tránh lợi dụng chính sách.
Ngoài ra, đối với các địa phương miền núi, biên giới, cần chú trọng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông, lâm sản, doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị nông nghiệp, doanh nghiệp gắn với vùng nguyên liệu và giải quyết việc làm tại chỗ cho người dân…

ĐBQH Nguyễn Khánh Vũ (Quảng Trị) phát biểu thảo luận Tổ 4. Ảnh: Lâm Hiển
Góp ý vào dự thảo luật liên quan đến quy định chính sách tiếp cận mặt bằng sản xuất, ĐBQH Nguyễn Khánh Vũ (Quảng Trị) đề nghị Cơ quan soạn thảo nên quy định hình thức cấp phiếu hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp thanh toán tiền thuê là phương thức chính; hình thức này đã có tại điểm b khoản 6 Điều 10 nhưng mới là một trong hai phương thức để lựa chọn.
Cùng với đó, bổ sung nghĩa vụ hoàn trả ngân sách đối với chủ đầu tư đã nhận hỗ trợ theo điểm b khoản 1 Điều 10 nhưng không dành diện tích cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê, thuê lại; hiện nay dự thảo mới có cơ chế xử lý đối với khu công nghiệp, cụm công nghiệp không nhận hỗ trợ đầu tư của Nhà nước (điểm b khoản 4 Điều 10).
Đặc biệt, cần xác định rõ chủ sở hữu và trách nhiệm quản lý đối với tài sản hạ tầng hình thành từ nguồn hỗ trợ của ngân sách địa phương, bởi khoản 6 Điều 5 loại trừ tài sản này khỏi phạm vi tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn điểm b khoản 1 Điều 10 lại quy định tài sản này không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.
Về bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng và đến được với doanh nghiệp, đại biểu đề nghị làm rõ việc thay đổi tiêu chí xác định quy mô doanh nghiệp, đồng thời quy định điều kiện tuân thủ pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với người lao động khi nhận hỗ trợ từ ngân sách; làm rõ lý do bỏ điều kiện hộ kinh doanh phải hoạt động liên tục ít nhất 1 năm trước khi chuyển đổi thành doanh nghiệp, bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng; lượng hóa nhu cầu ngân sách, quy định rõ trách nhiệm bố trí nguồn lực và đào tạo cán bộ cấp xã để thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ doanh nghiệp...



